Khối 8406 Việt Nam
Khối 8406 Việt Nam
Tin Nổi Bật
print this page
Bài Mới

PHẢI CÔNG BỐ CÁC THỎA THUẬN Ở THÀNH ĐÔ CHO NHÂN DÂN BIẾT

Đăng bởi Anh vào Thứ Hai

Nguyễn Đăng Quang

Cách đây 24 năm, ngày 3 và 4/9/1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) đã diễn ra cuộc họp thượng đỉnh giữa lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Tham dự cuộc gặp, phía TQ, dẫn đầu là Giang Trạch Dân - TBT Đảng CSTQ, và Lý Bằng - Thủ tướng Quốc vụ viện nước CHND Trung Hoa. Dẫn đầu đoàn VN là Nguyễn Văn Linh - TBT Đảng CSVN và Đỗ Mười, lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tức Thủ tướng Chính phủ) nước CHXHCN Việt Nam. Thành viên thứ ba của đoàn VN là Phạm Văn Đồng - Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng. Tháp tùng đoàn VN đến Thành Đô có 3 cán bộ cấp cao là Hồng Hà - Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Hoàng Bích Sơn - Trưởng Ban đối ngoại Trung ương và Đinh Nho Liêm - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Trên chuyên cơ đưa đoàn VN từ sân bay Nội Bài đi Thành Đô còn có cả Trương Đức Duy - Đại sứ đặc mệnh toàn quyền TQ tại VN. Song điều đặc biệt đáng chú ý là Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch không có tên trong danh sách tham dự cuộc họp này.

Trong cuộc gặp thượng đỉnh này tại Thành Đô, hai bên đã ký kết một văn bản thỏa thuận gọi là "Kỷ yếu Hội nghị" để chính thức bình thường hóa quan hệ hai nước và cùng nhau thực hiện những thỏa thuận vừa đạt được giữa lãnh đạo hai Đảng và hai Nhà nước. Cuộc gặp thượng đỉnh này cũng như nội dung thỏa thuận của Hội nghị Thành Đô từ đó cho đến nay vẫn luôn nằm trong bí mật và cho đến tận hôm nay - mặc dù 24 năm đã qua - nó vẫn chưa được chính thức công bố cho nhân dân VN cũng như các nước liên quan và cộng đồng quốc tế được biết!

Hội nghị Thành Đô diễn ra trong bối cảnh quốc tế như thế nào?

Trước hết không thể không nói là cuộc thảm sát Thiên An Môn tại Bắc Kinh ngày 4/6/1989. Gần 2 tháng trước đó, từ giữa tháng 4/1989, hàng ngày có hàng chục ngàn, có hôm lên đến cả trăm ngàn sinh viên và thanh niên thay nhau tổ chức biểu tình ngồi và nằm để chiếm quảng trường Thiên An Môn. Họ giương cao các khẩu hiệu chống tham nhũng, ủng hộ cải cách và đòi tự do, dân chủ. Với bản chất khát máu và phi nhân tính, thay vì đối thoại để có một giải pháp ôn hòa, nhà cầm quyền TQ đã sử dụng lực lượng quân đội với hàng trăm xe tăng mờ sáng ngày 4/6/1989 tràn vào quảng trường Thiên An Môn tàn sát dã man người biểu tình trong tay không một tấc sắt và là đồng bào ruột thịt của mình! Xe tăng nghiền nát hàng ngàn thanh niên sinh viên, máu chảy lênh láng khắp quảng trường! Cả thế giới bàng hoàng! Mỹ và phương Tây cùng các nước tiến bộ trên toàn thế giới đồng thanh lên án, tố cáo, trừng phạt và cô lập Trung Quốc. Nhà cầm quyền cộng sản Trung Hoa kể từ khi thành lập (1949) đến nay chưa khi nào lại bị thế giới nguyền rủa và cô lập như lúc này. Đây là vết nhơ ngàn đời khó rửa đối với chính quyền cộng sản Trung Quốc!

Ngoài ra, một sự kiện lịch sử không thể không nói, đó là hàng loạt các ĐCS và hệ thống XHCN nối tiếp nhau tan rã và sụp đổ ở Đông Âu. Bắt đầu từ cuối năm 1989 cho đến đầu năm 1990, chế độ XHCN ở 6 nước cộng sản Đông Âu lần lượt và dồn dập sụp đổ: Đầu tiên là Ba Lan (6/1989), tiếp đến là Hungary (10/1989), rồi đến Đông Đức (11/1989), tiếp theo là Tiệp Khắc (12/1989), sau đó là Rumani (12/1989), và tiếp đến là Bulgary(1/1990). Muộn hơn là Albany (3/1991), rồi đến Nam Tư (6/1991) và cuối cùng là Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết tức Liên Xô (19/8/1991). Chỉ trước đấy không lâu, vào đầu tháng 10/1989, lãnh đạo các ĐCS và các nước XHCN “anh em” còn tụ tập nhau ở Berlin để cùng nhau tham dự Lễ kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức (7/10/1989) và bàn việc bảo vệ, giữ vững chế độ XHCN trên thế giới. Đoàn Việt Nam do TBT Nguyễn Văn Linh dẫn đầu sang Berlin tham dự lễ kỷ niệm này, nhưng chỉ đúng một tháng sau khi về đến Hà Nội thì bức tường Berlin đổ sụp. Erich Honecker - TBT Đảng kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước CHDC Đức - bị lật đổ. Còn lãnh tụ Nikolai Ceaucescu của Đảng và Nhà nước Rumani, sau khi dự lễ kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức, khi trở về Bucarest ông còn kịp tổ chức "thành công" Đại hội lần thứ 14 Đảng Cộng sản Rumani (cuối tháng 11/1989) và tất nhiên ông được bầu lại làm TBT thêm một nhiệm kỳ 5 năm nữa! Nhưng chỉ một tháng sau - ngày 20/12/1989 - khi vừa chân ướt chân ráo về đến thủ đô Bucarest sau 2 ngày đi thăm chính thức nước Cộng hòa Hồi giáo Iran thì Ceaucescu bị truy bắt, cả 2 vợ chồng phải chạy trốn khỏi thủ đô và sau đó đều bị bắt và bị một tòa án quân sự tuyên tử hình về tội diệt chủng và tham nhũng, rồi cả hai nhanh chóng bị mang ra hành quyết vào rạng sáng ngày 25/12/1989. Theo cuốn hồi ký "Hồi ức và suy nghĩ" của nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ thì Nikolai Ceaucescu "là người trong thời gian ở Berlin xem ra tâm đầu ý hợp với TBT Nguyễn Văn Linh trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp XHCN thế giới đang lâm nguy". Nhiều nguồn tin khác còn nói chính trong lần gặp nhau ở Berlin này, hai vị lãnh đạo của Việt Nam và Rumani đã đồng ý là năm sau (1990) sẽ cùng đứng ra đồng tổ chức một cuộc Hội nghị toàn cầu các đảng cộng sản và công nhân nhằm xiết chặt đoàn kết và khẳng định xu thế tất thắng của Chủ nghĩa Xã hội trên phạm vi toàn thế giới! Những sự kiện dồn dập nói trên ở Đông Âu nối tiếp xảy ra chỉ trong vòng không đến một năm khiến TBT Nguyễn Văn Linh và Lãnh đạo Đảng VN bồn chồn và vô cùng lo lắng, đứng ngồi không yên!

Nắm bắt được tâm trạng hoảng hốt, lo lắng của lãnh đạo Đảng và Nhà nước VN và biết chắc được lãnh đạo VN sẽ sẵn sàng nhân nhượng để khôi phục lại quan hệ với Đảng và Nhà nước với TQ nhằm có đồng minh và chỗ dựa trong việc bảo vệ Đảng và chế độ XHCN tại VN, Trung Nam Hải quyết định hành động! Đặng Tiểu Bình, Cố vấn tối cao kiêm Chủ tịch Quân ủy Trung ương ĐCSTQ - kẻ đã xua 600.000 quân tràn qua 6 tỉnh biên giới phía Bắc để xâm lược nước ta 10 năm trước (tháng 2/1979 ) - cùng các lãnh đạo chóp bu khác ở Trung Nam Hải nhận định đây là cơ hội quí hơn vàng để thực hiện quỷ kế chia rẽ, lừa gạt và phân hóa nội bộ VN nhằm đưa Ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước VN nằm trọn trong quỹ đạo phụ thuộc toàn diện vào Cộng sản Trung Quốc! Chúng đưa ra chiêu trò cực kỳ thâm hiểm là gợi ý tổ chức một cuộc hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo hai Đảng và Nhà nước để cải thiện và bình thường hóa quan hệ Việt Nam -Trung Quốc nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và bảo vệ CNXH ở mỗi nước! Cơ quan được giao thực hiện quỷ kế này không ai khác chính là Hoa Nam Tình báo. Cơ quan tình báo này thừa biết, nếu thông qua kênh ngoại giao chính thức là Bộ Ngoại giao thì chắc chắn quỷ kế này sẽ bị bại lộ và nhiều khả năng sẽ bất thành, bởi vì ở Bộ Ngoại giao có Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, Thứ trưởng Trần Quang Cơ và Trợ lý Ngoại trưởng Vũ Khoan là 3 nhà lãnh đạo rất am hiểu và luôn cảnh giác cao độ với mọi âm mưu, thủ đoạn của Trung Quốc. Do vậy phải tránh BNG và phải đi đường vòng. Đường vòng này đã được Hoa Nam Tình báo xác định từ trước là Ban Đối ngoại Trung ương và Bộ Quốc phòng!

Trương Đức Duy (sinh năm 1930 tại Quảng Đông, là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền TQ tại VN từ tháng 4/1989 đến 3/1993, nói tiếng Việt giỏi như người Việt, người vốn không xa lạ gì với cơ quan an ninh VN) được giao trực tiếp thực hiện kế hoạch này. Chỉ chưa đầy hai tháng sau khi được cử giữ chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Việt Nam, Trương Đức Duy đã thực hiện một bước đi ngoạn mục là qua mặt và phớt lờ Bộ Ngoại giao, trực tiếp liên hệ và tiếp xúc với hai cơ quan nói trên của VN là nơi vốn Trương đã có sẵn các mối quan hệ đặc biệt từ khi ông ta còn là phiên dịch kiêm Bí thư thứ ba rồi thứ nhất Sứ quán TQ ở Hà nội 20 năm về trước. Trương Đức Duy đã được sắp xếp dễ dàng gặp Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh 3 lần trong vòng chưa đầy 3 tháng (trưa 6/6, chiều 20/8 và sáng 29/8/1989), gặp TBT Nguyễn Văn Linh 3 lần (ngày 5/6, tối 22/8 và chiều 29/8/1989). Những lần Trương đến Bộ Quốc phòng hay Ban Đối ngoại Trung ương gặp lãnh đạo VN, xe Trương thường không cắm cờ và đi vào cửa phụ, Trương không mang theo phiên dịch và thư ký ghi chép và ông ta cũng yêu cầu phía ta không bố trí phiên dịch và thư ký, những cuộc gặp đó chỉ có 2 người: 1 chủ và 1 khách!

Đương nhiên, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch không được biết trước những cuộc gặp này, mà chỉ được thông báo sau khi đã diễn ra, thậm chí có những cuộc gặp ông còn không được cho biết, mặc dù ông đang là Uỷ viên Bộ chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng) kiêm Bộ trưởng Ngoại giao!

Nhớ lại, vào một tối đầu Thu 1987 tại New York, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch có nói riêng với người viết bài này khi ông dẫn đầu phái đoàn CHXHCN Việt Nam sang dự Khóa họp thứ 42 Đại hội đồng LHQ: "Họ công khai ra điều kiện cho lãnh đạo ta là "Nếu VN thực tâm muốn cải thiện và bình thường hóa quan hệ với TQ thì việc đầu tiên VN phải làm là loại bỏ Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch". Vâng, có lẽ tất cả các cán bộ đối ngoại ở BNG hoặc ở các cơ quan đại diện ngoại giao VN ở nước ngoài trong khoảng thời kỳ 1987-1990 đều được biết đòi hỏi cực kỳ ngang ngược và trịch thượng này của TQ! Nhiều cán bộ trung cao cấp của Bộ Ngoại giao hồi đó còn trao đổi ở chốn riêng tư với nhau: "Lần này thủ trưởng của chúng ta có lẽ khó thoát khỏi là "vật tế thần!". Tôi thật không ngờ và rất buồn là ngay sau Hội nghị Thành Đô, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch - "kiến trúc sư của nền ngoại giao Việt Nam" - một chiến lược gia tài ba, một nhà lãnh đạo có kiến thức uyên thâm và tầm nhìn xa trông rộng, một nhà ngoại giao sắc sảo và quả quyết, người mà nhiều chính khách phương Tây rất khâm phục và kính nể, lại phải sớm rời khỏi mọi chức vụ (Ủy viên BCT, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao) và bị loại khỏi danh sách đề cử vào BCHTW khóa VII! Chỉ trước đấy không lâu, ngay đầu năm 1990, ông còn được dự kiến làm Thủ tướng nếu ông Võ Văn Kiệt lên làm Tổng Bí thư ở Đại hội VII.

Việc ông bị loại bỏ khỏi tất cả các chức vụ lãnh đạo Đảng và Nhà nước có phải là một trong các điều kiện mà TQ đã buộc ta phải chấp nhận ở Hội nghị Thành Đô hay không, là một điều không khó để chứng minh. Còn về câu nói "Thế là một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu!" có phải là ý kiến nhận định và đánh giá về kết quả Hội nghị Thành Đô của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch hay không? Ông nói câu này khi nào, với ai và trong bối cảnh nào thì chưa thấy có nguồn tin nào khẳng định. Khi phải thôi chức Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao ở tuổi tròn "thất thập" (1991), tuy bị sốc, nhưng sức khỏe về trí lực và thể lực của ông vẫn còn rất tốt. Ông vẫn được Bộ Chính trị giao công tác mới là chủ trì tổng kết công tác ngoại giao, nghiên cứu kinh tế thế giới và chiến lược đối ngoại cho đến khi ông mất (năm 1998). Chính trong thời gian này ông đã hoàn chỉnh cuốn hồi ký mà ông đã khởi bút viết ngay sau khi Hội nghị Paris về VN kết thúc (1973). Cuốn hồi ký này nói về những năm tháng vinh quang, những khoảnh khắc bực tức, nóng giận và cay đắng trong cuộc đời 60 năm hoạt động cách mạng trong đó có 44 năm làm công tác ngoại giao của ông. Chắc chắn là nhiều bí mật đối ngoại của Nhà nước cũng như của riêng ông sẽ được "bật mí" một khi cuốn hồi ký này được công bố!

Gần 1/4 thế kỷ đã trôi qua kể từ Hội nghị Thành Đô, nhiều thành viên đoàn VN tham dự hội nghị này không còn nữa, nhưng hậu quả để lại của cuộc gặp này là khôn lường, gây ra những thiệt hại to lớn và nguy hiểm cho đất nước và nhân dân ta ở hầu hết các lĩnh vực: từ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, văn hóa - giáo dục, chủ quyền đất nước, chính trị nội bộ đến vấn đề an ninh quốc gia trên phạm vi toàn lãnh thổ, từ biên giới phía Bắc cho đến các tỉnh miền Tây Nam bộ, từ biển Đông vào đến các tỉnh ven biển và giáp với biên giới Lào và Campuchia, và đặc biệt là vùng Tây Nguyên chiến lược. Không thể thống kê hết những vấn đề nói trên, chỉ xin đề cập đến một vài sự việc nổi cộm sau:

1- Từ sau Hội nghị Thành Đô, cuộc chiến tranh xâm lược của TQ ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta (17/2/1979) không được nhắc đến nữa, thậm chí những hoạt động của người dân tưởng niệm và vinh danh các liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến này hoặc các cuộc biểu tình yêu nước chống TQ xâm phạm biển đảo và sát hại ngư dân ta đều bị ngăn cấm và đàn áp.

Hơn 35 năm đã trôi qua, tại sao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chống xâm lược bành trướng phương Bắc này cũng như việc TQ dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (1974) và đảo Gạc Ma của ta ở Trường Sa (1988) không được tổng kết và đưa vào lịch sử và sách giáo khoa để giáo dục lòng yêu nước cho học sinh, sinh viên và thanh niên ta?

2- Tại sao ta cho phép hoặc không ngăn chặn việc TQ thuê hàng trăm ngàn héc ta rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới chiến lược phía Bắc với thời hạn lâu dài 50-70 năm?

3- Một khu vực có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, rất nhạy cảm về mặt an ninh - quốc phòng là Tây Nguyên (Ai kiểm soát Tây Nguyên thì có thể khống chế được toàn bộ bán đảo Đông Dương!) thì TQ lại dễ dàng được phép đưa hàng ngàn công nhân vào đây để thực hiện dự án bauxite đầy nghi ngờ và tranh cãi không những về an ninh - quốc phòng mà cả về hậu quả sinh thái - môi trường, cũng như về hiệu quả kinh tế - xã hội, mặc dù có hàng ngàn cựu cán bộ lãnh đạo, nhân sĩ trí thức và các nhà khoa học lên tiếng kiến nghị Bộ Chính trị, Quốc hội và Nhà nước dừng dự án này!

4- Tại sao các công ty TQ lại trúng đến 80-90% các gói thầu trọn gói EPC (thiết kế - mua sắm - xây dựng) trong các dự án về KT-XH, đặc biệt là các dự án nhiệt điện, và tại sao ta chấp nhận hàng chục ngàn lao động phổ thông TQ (có phép và không phép) vào thực hiện các dự án này? Tại sao ta lại để cho thương nhân và các doanh nghiệp TQ tự tung tự tác trên khắp lãnh thổ của ta, lừa đảo nông dân ta, lũng đoạn và phá hoại nền kinh tế đất nước ta một cách dễ dàng như chốn không người như vậy?

5- Gần đây TQ ngang ngược và trắng trợn hạ đặt giàn khoan Haiyang Shiyou 981 để khoan thăm dò dầu khí sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN mà ta lại không dám nhân cơ hội này kiện TQ ra trước tòa án quốc tế như Philippines đã làm? Do ta chưa chuẩn bị kịp hồ sơ pháp lý hay vì một nguyên nhân nào khác? Trong vụ giàn khoan này TQ đã không chỉ chà đạp luật pháp và chủ quyền của VN mà còn vi phạm thô bạo Công ước Luật biển 1982 (UNCLOS) của LHQ. Dư luận rộng rãi trên toàn thế giới phản đối, lên án TQ và đồng tình, ủng hộ VN. Rất tiếc ta lại không tận dụng thời cơ và lợi thế này để vạch mặt bọn "vừa ăn cướp vừa la làng"! Trung Quốc không chỉ ngang ngược mà họ còn phi lý và trịch thượng nữa! Qua hãng thông tấn chính thức Tân Hoa Xã, họ đưa ra "4 yêu sách VN không được làm" trong đó họ đề cập xa gần và bóng gió đến thỏa thuận Thành Đô 1990!

- v.v.

Xung quanh Hội nghị thượng đỉnh và các thỏa thuận mà VN đã ký với TQ ở Thành Đô có nhiều phân tích, đánh giá, nhận định, thông tin trái chiều, thậm chí cả những đồn thổi nguy hiểm, bất lợi về mặt dư luận... làm người dân hoang mang, bán tín bán nghi, không biết đâu là hư, đâu là thực! Mọi hiện tượng trên sẽ chấm dứt một khi Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối quan hệ Việt - Trung, đặc biệt là các thỏa thuận mà lãnh đạo ta đã ký với TQ ở Thành Đô.

Là chủ nhân ông của đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết về những vấn đề trọng đại của quốc gia, trong đó có sự thật về quan hệ VN - TQ trong những năm qua, đặc biệt là các thỏa thuận đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990. Hơn nữa, Điều 4 Hiến pháp 2013 đã ghi rất rõ: "ĐCSVN... là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội... Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình". Do vậy việc lãnh đạo Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối bang giao Việt - Trung và các thỏa thuận đã ký với TQ ở Thành Đô là một việc nên làm, cần làm và phải được làm vì điều này chỉ có lợi cho Nhân dân và Đất nước.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI sẽ sớm nhóm họp Hội nghị Trung ương lần thứ 10 trong thời gian tới để duyệt xét mối quan hệ VN - TQ và đưa ra các quyết sách liên quan. Nhân dân rất kỳ vọng một trong các quyết sách này là Đảng sẽ báo cáo cho toàn dân biết sự thực về mối quan hệ với TQ trong 1/4 thế kỷ qua trong đó có các thỏa thuận mà lãnh đạo Đảng ta đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990 kèm theo một lời tạ lỗi chân thành! Nếu đúng thì đây sẽ là một trong các quyết định dũng cảm, hợp lòng dân và quan trọng nhất trong lịch sử tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Hà Nội, 3/8/2014

N.Đ.Q.

Tác giả gửi BVN

Trần Sơn - Thư trả lời 61 đảng viên lão thành

Đăng bởi Anh vào Chủ Nhật

Trần Sơn
Tác giả gửi tới Dân Luận

Các bác kính mến, thú thực là em đã đọc kỹ thư kiến nghị của các bác trên trang Dân Luận, Với kiến nghị như thế này, thường trực ban bí thư TƯ ĐCS VN hay đại loại gì đấy, không bao giờ trả lới các bác đâu. Chẳng ai trả lời các bác cả. Em còn đây, các bác còn đấy, cứ chờ xem, em nói cấm có sai. Biết là chẳng bao giờ họ trả lời các bác, thì em mạo muội trả lời các bác vậy, để các bác khỏi mong thư hồi âm.

Thư các bác không dài, nhưng vấn đề không mới, ai cũng biết, 90 triệu dân VN biết tỏng lâu rồi, 16 ủy viên bộ CT cũng biết tỏng lâu rồi. Nhưng trả lời các bác làm sao đây. Các bác toàn kiến nghị khó, như dánh đó nhau.

Thôi, em trả lời các bác từng phần theo thứ tự từ trên xuống để phần nào các bác yên lòng.

Bản kiến nghị, tựu chung lại có 2 phần. Phần 1 là hiện tình đất nước. Phần 2 có 2 kiến nghị cụ thể. Em thử trả lời như sau, các bác xem sao:

1. Các bác bảo xây dựng đất nước theo con đường CNXH là sai lầm, 30 năm đổi mới chưa triệt để nên gây ra nhièu mặt lũng đoạn trong xã hội …. Cái này đích thân đồng chí TBT Trọng đã trả lời rồi. Đại ý là “đổi mới“ chỉ là một giai đoạn ngắn để tháo gỡ tình thế về kinh tế thôi. Còn nền tảng là chính trị không thể thay đổi được”. Điều này có nghĩa là, các bác liệu chừng, đến một ngày đẹp trời nào đó các bác cùng toàn đân vác hộ khẩu lên phường nhận tem phiếu theo tiêu chuẩn lương thực thực phẩm hàng tháng nhé. Chợ búa dẹp hết nhé, tất cả vào HTX nhé… Có vậy mới xây dựng CNXH được, chứ cứ như nền kinh tế thị trường bát nháo hiện nay thì 100 năm nữa chưa chác đẫ có ( Lời của TBT Trọng). Mà điều các bác phải nhớ, Hiên nay đồng chí TBT Trọng đang khao khát hàng ngày hàng giờ làm sao xây dựng CNXH trên đất nước ta thật mau. Kẻo 100 năm năm nữa bác ấy không kịp sống.

Các bác, 61 người ai cũng là đảng viên CS cả, thế mà các bác quên một điều căn bản sống còn: Nếu không vì mục tiêu xây dựng CNXH thì đảng CS tồn tại để làm gì? Xây được hay không được, không quan trọng. Cứ phải hô hào như vậy đã, để mà còn lý do tồn tại, lý do lãnh đạo. Chứ không nói như vậy để dân nó chửi cho là đồ ăn bám à. Bí lắm thì nói liều là sứ mệnh do dân tộc giao phó, do nhân dân lựa chọn

Các bác bảo thôi đừng theo Mac-Lê nữa, chảng hóa các bác muốn giải tán cái đảng này à? Cái này đồng chí Nguyễn MInh Triết đã nói rõ rồi “Hổng được đâu”… Thôi thì thế này, các bác làm gương trước đi: Trả lại thẻ Đảng, tự ý xin ra, như bác Đằng, anh Đức nghe còn thuyết phục hơn cái bản kiến nghị. Nói ngược lại, các bác còn là đảng viên CS thì các bác đừng khuyên từ bỏ chủ nghĩa Mac-Lê, nghe nó chối lắm. Làng nào chẳng thờ ông khai canh, nghề nào chẳng thờ ông tổ. Đến nghề làm… còn có nữa là.

2. Rồi các bảo đảng độc tài toàn trị, Thế chẳng nhẽ các bác muốn đa đảng à. Nếu muốn, các bác tự lập ra đảng mới đi. Pháp luật có cấm đâu. Khi nào an ninh CS bắt bớ các bác, các bác kiến nghị cũng chưa muộn kia mà. Còn quan điểm của đảng CS VN là không đa đảng. Cái này, cũng bác Triết nói rõ rồi “đa đảng là chết“ nói toạc ra, đa đảng dân không chết, mà đảng CSVN chết ngay, chết không kịp ngáp. Phải chăng các bác muốn như vậy? Em nghĩ các bác trên TƯ đảng không muốn như vậy. Nhìn Sadam bị treo cổ, Gradafi bị lôi ống cống là các bác ấy hãi lắm.

3. Rồi các bác bảo là kìm hãm tự do dân chủ chia rẽ dân tộc. Thế dân chủ, tự do là cái gì, mặt mũi nó ra sao? đã có bao giờ dân VN này được biết thế nào là tự do dân chủ đâu mà so sánh. Các bác nói vậy, em biết vậy, chứ bảo thế nào là tự do dân chủ thì em chịu, em chưa bao giờ qua Âu-Mỹ, em chưa biết. Em không dám đòi. Còn chia rẽ dân tộc thì các bác nói hơi mơ hồ. Trong nước thì khấu hiệu “Đoàn Kết, Kỷ Cương…” giăng đầy đường đấy, các bác không đọc à? Với bà con Việt kiều bác Triết có khúc ruột ngàn dặm của bác vắt qua tận bên Mỹ rồi. Các bác cũng không thấy sao? Rõ ràng chủ trương của đảng CSVN là không chia rẽ nhé. Chủ trương của đảng lâu nay là tập hợp thật đông quần chúng, càng đông càng tốt, một lòng theo đảng, đảng bảo gì nghe nấy, đừng ý kiến ý cò gì hêt. Còn lòng dân không theo là lỗi tại dân. Các bác nói thế là oan cho đảng ròi. Đảng không vui đâu.

4. Các bác bảo tham nhũng tràn lan, đất nước kiệt quệ, tụt hậu so với các nước trong khu vực. Cái này cũng đúng, ai cũng thấy. Nhưng bọn cán bộ địa phương các cấp, ban ngành đoàn thể, lương ba cọc ba đồng nó ăn gì để nó làm việc. Không tạo điều kiện cho nó chấm mút thì nó bỏ việc à? Lúc ấy các bác ra mà làm nhé. Có bọn nó mới có người phục vụ chế độ. Nói toạc ra, chế độ này còn tồn tại là nhờ bọn nó. Thằng nào làm cán bộ mà không ăn cắp là thằng đấy có nguy cơ chống phá đảng, không chóng thì chầy cũng bị các đồng chí “tận tụy phục vụ chế độ“ cho bật xới. Cho nên các bác muốn truy tìm, tố cáo tham nhũng, rất dễ. Các bác xem thằng nào luôn mồm hô to “Đảng cộng sản VN quang vinh muôn năm“ là thằng đấy tham nhũng nhiều nhất. Cái này bác Sang gọi là bầy sâu. Cứ xem thằng nào to mồm ca ngợi đảng CSVN, thằng đó là chính loại sâu bự.

Như vậy phần tình hình chung em đã nói ró chân lý từng điểm cho các bác rồi nhé. Giờ đến phần 2, kiến nghị. Em cũng nói ngắn thôi:

5. Các bác kiến nghị chuyển đổi mô hình chính trị từ toàn trị sang mô hình dân chủ. Vậy cái mô hình ấy nó như thế nào. Sao các bác không đính kèm bản kiến nghị ấy một bản luận cương, xem nó cụ thể nó ra sao. Chứ các bác nói dân chủ chung chung ấy thì bố ông TBT cũng không sao mà hình dung ra được. Còn về dân chủ thì chị Doan thay mặt đảng và nhà nước cũng đã khẳng định rồi “nước ta có nền dân chủ gấp ngàn lần các nước tư bản chủ nghĩa“. Vậy thì các bác còn đòi dân chủ như thế nào nữa. Rõ là các bác được voi đòi tiên.

6. Nền kinh tế phụ thuộc vào Trung Quốc thì đúng rồi. Nhưng bảo không phụ thuộc vào nó thì mua bán với ai. Đồ của nó rẻ, toàn dân ai dùng cũng được. Cho nó trúng thầu thì phần lại quả lớn hơn bọn Nhật, lại đảm bảo không bị tố. Làm ăn với nó kiểu gì nó cũng mời qua TQ vài lần, ăn chơi không bị dòm ngó. Vậy thì các bác bảo nên chọn ai. Cho bọn trong nước trúng thầu thì vừa đắt, vừa làm ẩu. ăn xong còn bị nó tố ngược mới oan gia làm sao. Thôi tạm thời cứ chơi với nó vài chục năm nữa đã, cho lành.

7. Lâu nay chọn đại biểu đại hội đảng toàn quốc, thì cũng bầu từ cơ sở lên đấy thôi. Chứ bộ CT, ban chấp hành TƯ công đâu mà đi chọn cả nghìn đại biểu. Toàn là dưới cơ sở nó bầu lên đấy chứ. Nó phe cánh o bế cho nhau thì các bác phải chỉ ra nó không xứng đáng như thế nào chứ. Bây giờ mà hỏi 10 thằng thì cả 11 thằng nó bảo nó yêu nước đấy chứ, có thằng nào không yêu nước đâu. Nhưng yêu nước chung chung thì cũng chưa được, phải kèm thêm yêu đảng, yêu chế độ nữa, cái này thì bọn ấy có thừa tình yêu. Vì đảng là suối nguồn tươi trẻ của nó mà.

8. Bầu đại biểu Quốc hội cũng vậy, toàn là dân bầu lên chứ ai. Dân đi bầu là dân ngu thì các bác chịu, chứ biết kêu ai bây giờ. Em nhớ không nhầm, gần đây có vị đại biểu quốc hội thẳng thừng tuyên bố “quốc hội là của dân, quốc hội sai thì dân chịu“ (đảng vô can). Thế thì các bác còn thắc mắc gì nữa. Hay thôi, biết là cái đám đại biểu quốc hội toàn bọn ăn hại đái nát, lần sau có tổ chức bầu cử, các bác ở mỗi địa phương của mình vận động nhân dân đừng đi bầu nữa có được không. Các bác có làm được điều này không?

9. À còn cái chuyện biểu tình yêu nước nữa, “cái ni là mệ không ưng mô“. Nói thật với các bác, chế độ nào, chứ chế độ CS sợ biểu tình lắm. Từ biểu tình đến sụp đổ chế độ chỉ cách nhau một gang tay. Đi nhanh hơn ung thư giai đoạn cuối. Nên ở chế độ CS là không có biểu tình. Mít tinh ủng hộ thì được. Đại loại như mít tinh ủng hộ Putin chiếm trọn bán đảo Crưm thì OK. Hay mít tinh chaò mừng quân đội ly khai Ucraina vừa bắn hạ một chiếc máy bay của bọn Malaysia thì đảng cho tổ chức liền.

10. Còn tù nhân chính trị nữa, nói gọn, đấy là con bài dự trữ để đối ngoại. Thả làm sao được, Có thả 1 thì bắt 10. Bọn Âu Mỹ nó yêu sách đủ điều. Bây giờ mà không lưu trữ vài chục tù nhân chính trị thì nó đòi hỏi nhiều điều mệt hơn. Nào là bầu cử tự do, nào là đa đảng, nào là công đoàn độc lập… Tù nhân chính trị là thứ dễ mặc cả nhất với phương tây. Khi nào cảm thấy có lợi (hoặc bất lợi quá) thì ta thả vài thằng, nom xem kho hơi cạn thì ta đi bắt dự trữ vài thằng nữa. Các bác thông cảm, đây là cái vốn lận lưng của đảng.
...
Thôi các bác ạ, cái dám dân đen nước mình vốn dĩ nghèo khổ, thất học, cả tin, chỉ vì nghe theo Việt Minh mà đến nông nỗi này. Chả trách đám dân đen, cỡ Trần Đức Thảo còn bị lừa nữa là.
Trả lời các bác như thế có lẽ tạm đủ rồi. Hy vọng các bác không thắc mắc nữa. Để kết thúc, em hầu các bác một bài thơ em vừa làm, để các bác thư giãn. Tên bài thơ là:
CÂY ĐA Ở CỔ LOA
Ở Cổ Loa.
Có một cây đa,
Ngót một ngàn năm tuổi.
Năm 939 Đức Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán.
Chấm dứt Bắc thuộc ngàn năm.
Ngài về lại Cổ Loa,
Trồng một cây đa,
Phục dựng vương triều cũ.
Nhưng than ôi!
Năm 90 thế kỷ 20.
Triều đại nhà Hồ,
Qua Thành Đô khấu đầu cúi lạy.
Cây đa chết.
Một ngàn năm Bắc thuộc bắt đầu.

Bài thơ có dở các bác đừng cười nhé.
Trần Sơn

Những thành công trong chuyến thăm Mỹ của ông Phạm Quang Nghị

Đăng bởi Anh vào Thứ Bảy

Phạm Quang Tuấn

Nhiều người đã đặt câu hỏi: Ông Phạm Quang Nghị thăm Mỹ để làm gì? Có thành công không? Người ta cũng chú ý đến món quà lạ lùng mà ông Nghị "tặng" cho Thượng nghị sĩ John McCain, món quà chỉ có thể coi là một sự hạ nhục [1]: hai tấm ảnh chụp bia kỷ niệm chỗ bắn rơi máy bay của McCain, bia khắc ông McCain đang quỳ gối giơ tay đầu hàng và có dòng chữ "NGÀY 26 10 1967 TẠI HỒ TRÚC BẠCH QUÂN VÀ DÂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI BẮT SỐNG TÊN JOHN SNEY MA CAN THIẾU TÁ KHÔNG QUÂN MỸ LÁI CHIẾC MÁY A4 BỊ BẮN RƠI TẠI NHÀ MÁY ĐIỆN YÊN PHÚ. ĐÂY LÀ MỘT TRONG 12 CHIẾC MÁY BAY BỊ BẮN RƠI CÙNG NGÀY".

clip_image002 clip_image004

Bia kỷ niệm bắn rơi máy bay của John McCain

Đối với một người bình thường ở một nước văn minh, thì chỉ cái giọng kém học thức, gọi kẻ địch là "tên", và đánh vần sai be bét cũng đủ khiến phải giấu tấm bia đó đi, đừng nói là chụp ảnh nó rồi đưa cho người trong cuộc, mà nay đã thành Thượng nghị sĩ của một siêu cường. Có bao giờ một lãnh đạo Việt Nam dám đưa một tấm ảnh chụp bia kỷ niệm một tướng Tàu trong tình trạng tương tự cho đương sự? À, có bia đâu mà chụp, Việt Nam đời nào dám tạc bia kỷ niệm chiến tranh với Tàu cộng.

Tuy nhiên chuyện tặng quà này rất dễ hiểu nếu ta đọc một phát ngôn khác của ông Phạm Quang Nghị trong chuyến đi [2]:

"Ông Phạm Quang Nghị chân thành cảm ơn các bạn bè cánh tả và nhân dân Mỹ đã kiên trì ủng hộ và giúp đỡ cách mạng và nhân dân ta trong những năm tháng đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay".

Rõ ràng là, với tuyên bố này cũng như với "món quà" cho TNS McCain, ông Phạm Quang Nghị muốn nhắc cho Chính phủ Mỹ nhớ lại thời kỳ thù địch giữa hai nước. Ông không nhắc lại thời đó với giọng điệu của một cựu chiến binh đã thoát khỏi hận thù và hướng về tương lai, như ông McCain khi thăm Việt Nam, mà nhắc lại với những lời lẽ và hành động xỏ xiên, châm chọc.

Trong khi đó, khi nói về cuộc tranh chấp biển đảo với Tàu thì...

"Đặc biệt là cuộc gặp gỡ, trao đổi với các đại biểu từ nhiều cơ quan, tổ chức Mỹ do Hội châu Á tổ chức, ông Phạm Quang Nghị đã điểm lại tình hình diễn biến ở Biển Đông trong thời gian qua, nêu bật quyết tâm, chủ trương, biện pháp đấu tranh đúng đắn, sáng suốt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ngoại giao hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, đồng thời hết sức coi trọng, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; giữ gìn và củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển với các nước, trước hết là các nước láng giềng".

Tức là: Chúng tôi vẫn tiếp tục chung thủy, bốn tốt, 16 chữ vàng với ông anh của chúng tôi, các ông (Mỹ) đừng hòng mà xen vào.

Những việc chính thức đã làm với chính phủ Mỹ thì gói gọn trong vài câu rỗng tuếch, sặc mùi Tuyên giáo: "Trao đổi làm việc", "Trao đổi về những vấn đề hai bên cùng quan tâm", "Các cuộc gặp, làm việc diễn ra trong bầu không khí cởi mở, xây dựng, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau"[2].

Tới đây thì chúng ta có thể trả lời câu hỏi về mục đích chuyến thăm Mỹ của ông Phạm Quang Nghị: thứ nhất, là để trấn an và gián tiếp xin lỗi người anh cả phương Bắc sau vụ giàn khoan HY981, cho ông ta vững lòng rằng "thằng nhỏ" vẫn trung thành, không nghĩ tới chuyện đi tìm đồng minh khác. Thứ hai, là để làm sao cho Mỹ từ bỏ ý định xáp lại gần Việt Nam, thậm chí còn bực mình tránh xa "thằng nhỏ" vô ơn mà mình đã lên tiếng ủng hộ trong những ngày nó bị anh nó bắt nạt.

Chúng ta cũng hiểu tại sao Ngoại trưởng Phạm Bình Minh được Mỹ mời mà không đi, lại đi... Ba Lan trong thời gian đó. Phạm Bình Minh là người đã từng làm ngoại giao ở Anh, Mỹ và Liên Hiệp Quốc, lại là con cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, người có khuynh hướng thân Tây phương và nghi kỵ Tàu (ít ra là đối với Đảng Cộng sản Việt Nam) và nghe nói đã bị Trung Quốc đẩy ra khỏi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Hẳn ông ta không thể được Tàu tin cậy bằng Phạm Quang Nghị, một apparatchik thuần túy, thành viên lâu năm và cựu Phó Trưởng ban của Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương (Ban Tuyên giáo Trung ương hiện thời), nơi tập hợp những cái đầu thủ cựu, hẹp hòi, maoist, thân Tàu nhất trong Đảng. Chỉ việc thay đổi sứ giả cũng đã cho thấy mục đích của chuyến đi. Rất có thể, đây là giá mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải trả để đổi lại việc giàn khoan HY981 nhổ neo sớm một tháng.

Về câu hỏi "chuyến đi có thành công không", tôi nghĩ rằng có lẽ đã thành công đối với mục đích thứ nhất (trấn an người anh cả, thậm chí làm cho ngài hể hả). Về mục đích thứ hai (chọc giận và đẩy Mỹ ra) thì chưa chắc, vì những hành động và lời nói của ông Phạm Quang Nghị quá con nít và lộ liễu – nhưng chắc chắn không thể nói là chuyến đi đã giúp xúc tiến quan hệ Việt Mỹ.

Còn một mục đích nữa có thể nằm trong đầu ông Phạm Quang Nghị – đó là cái ghế Tổng Bí thư biết đâu có thể tới với ông trong tương lai, nhờ sự nâng đỡ của đàn anh Tàu đang hồ hởi với chuyến đi này. Chuyến đi sẽ giúp nhiều cho chuyện đó. Hơn nữa, chức Tổng Bí thư phải cho một người có tầm cỡ trí tuệ tương đương như ngài đương kim Tổng Bí thư kiêm Giáo sư Nguyễn Phú Trọng, mà tiêu chuẩn đó thì ông Phạm Quang Nghị rất vừa vặn.

P.Q.T.

Ghi chú

[1] http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/189997/mon-qua-ong-pham-quang-nghi-tang-tns-mccain.html.

[2] http://dantri.com.vn/chinh-tri/ong-pham-quang-nghi-ket-thuc-chuyen-tham-lam-viec-tai-new-york-907206.htm

Tác giả gửi BVN.

Pháp quyền dưới góc nhìn từ chính sách phát triển

Đăng bởi Anh vào Thứ Năm


Một trong những thuật ngữ được quan tâm nhất trong việc xây dựng và phát triển chính sách là “pháp quyền” [thượng tôn pháp luật], còn được biết với những cái tên gọi khác như “rule of law” trong tiếng Anh, “etat de droit” trong tiếng Pháp, “estado de derecho” trong tiếng Tây Ban Nha và “rechsstaat” trong tiếng Đức. Sự tăng trưởng kinh tế, quá trình hiện đại hóa chính trị, bảo vệ nhân quyền, và nhiều vấn đề quan trọng khác không ít thì nhiều đều được xây dựng trên nền tảng của “pháp quyền”. Do đó những nhà hoạch định chính sách ở những nước đang phát triển hoặc vẫn còn trong thời kỳ quá độ đang tìm kiếm phương pháp để thiết lập hoặc là củng cố pháp quyền ở đất nước của họ. Các dịch vụ đánh giá chỉ số đầu tư, các tổ chức phi chính phủ, và những nghiên cứu sinh trong các ngành phát triển nói chung đang tìm cách xây dựng khung chỉ số để đo đạc mức độ hiệu quả của pháp quyền ở mỗi quốc gia.

Nhưng khi xem xét kỹ càng các cuộc đối thoại về pháp quyền thì chúng ta nhận ra một điều là thuật ngữ này không có một khái niệm cụ thể. Ý tưởng đầu tiên về pháp quyền xuất hiện trong những bài viết chỉ ra quy tắc trong luật pháp và chính phủ, chủ yếu là bởi những tác giả phương Tây, và định nghĩa của pháp quyền bị nhào nặn sao cho phù hợp với ý tưởng về tính lý tưởng hay sự công bằng của tác giả đó. Do đó, một khảo sát nhằm tìm hiểu cách thuật ngữ này đã và đang được dùng ở Đức, Pháp, Anh và Mỹ như thế nào đã đi tới kết luận rằng “pháp quyền thuộc vào một khái niệm mở và tranh luận về nó sẽ còn kéo dài cho tới vô tận”.

Dù cho có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng mỗi khái niệm có thể được phân loại phụ thuộc vào điều nó nhấn mạnh là “những đặc điểm về hình thức (formal characteristics), nội hàm những mục tiêu mà pháp quyền mang lại (substantive outcomes), hay các cân nhắc về chức năng của pháp quyền (functional considerations)”. Sự khác nhau giữa ba khái niệm này và mối liên hệ của chúng tới nỗ lực xây dựng, đánh giá và củng cố pháp quyền được mô tả ở dưới đây.

ĐỊNH NGHĨA VỀ MẶT HÌNH THỨC

Những định nghĩa về mặt hình thức của nền pháp quyền xem xét sự vắng mặt hay hiện diện của những tiêu chí cụ thể và phải có tính quan sát được của pháp luật hoặc của hệ thống pháp luật. Những tiêu chí thông thường gồm có: một bộ máy tư pháp hoàn chỉnh và độc lập, ít nhất là về mặt hình thức; luật pháp được công bố công khai; không có bộ luật nào được làm ra để nhằm vào một nhóm người hay tầng lớp xã hội nào đó; không có luật hồi tố – tức có hiệu lực đối với những sự việc xảy ra trước khi luật đó được ban hành; và có cơ chế để tòa án kiểm tra tính hợp hiến của các hành vi của chính phủ. Không có một danh sách đầy đủ nào về những tiêu chí hình thức này, và những định nghĩa khác nhau về hình thức của pháp quyền có thể sử dụng những tiêu chí khác nhau. Điểm chung của các định nghĩa hình thức này là “pháp quyền” được đánh giá căn cứ vào việc hệ thống luật pháp có tuân thủ hay không các tiêu chuẩn đã nói ở trên.

Ưu điểm chính của định nghĩa của pháp quyền hình thức là nó rất rõ ràng, và tương đối khách quan một khi những tiêu chí hình thức được chọn. Chọn lựa ra các tiêu chí này có thể gây nhiều tranh cãi, nhưng một khi đã có và được quy định một cách hiển ngôn thì không khó để xác định mức độ một hệ thống luật pháp có tuân thủ theo đúng các quy định đó hay không. Các định nghĩa về hình thức do đó tránh được những phán xét chủ quan, ví dụ như việc nhận định nội dung một bộ luật có công bằng hay không.

Tuy nhiên, các định nghĩa chỉ tập trung vào hình thức của nền pháp quyền có hai nhược điểm. Thứ nhất, phụ thuộc quá nhiều vào “luật ghi trên giấy” và không để ý đủ tới “luật khi thực thi”. Những quyết định của tòa án được ban hành không phải lúc nào cũng, nếu không muốn nói là không thường xuyên, kết nối được với sự vận hành thực sự của hệ thống pháp lý. Do đó, tính khách quan của chúng trong khi đưa ra nhận định có thể bị đánh đổi bởi cái giá của sự chính xác. Thứ hai, những tiêu chí hình thức này được chọn bởi vì có một giả định theo chủ nghĩa kinh nghiệm (thường thì không phát biểu hiển ngôn được) rằng những đặc trưng về thủ tục đó sẽ dẫn tới một số hệ quả về mặt nội dung hay chức năng của luật pháp (Fuller 1964). Quả thực, không có cách nào khác để lựa chọn các chỉ tiêu về thủ tục (nếu như đã không ngầm định về một mục tiêu nhất định về nội dung hay chức năng của luật pháp).

Nhưng ngay cả khi điều đó là sự thực, nó chỉ cho chúng ta thấy rằng định nghĩa hình thức còn thiếu sót. Điều mà chúng ta thực sự nên quan tâm là bản chất của pháp quyền, và đó chính là kết quả về mặt nội dung hay chức năng mà pháp quyền đem lại. Liệu những đặc điểm về mặt hình thức, thủ tục có đóng góp hay không vào việc đạt được những mục tiêu đó nên được nghiên cứu cụ thể, không thể chỉ đơn thuần ngầm định một cách chủ quan. Điều này cho thấy tính “khách quan” của những tiêu chuẩn hình thức này có thể là viển vông, bởi chúng được lựa chọn thông qua những mặc định chủ quan (có khi là thiên vị về mặt văn hóa) về tác động thực sự của các bộ luật khi thực thi pháp luật.

ĐỊNH NGHĨA VỀ MẶT NỘI DUNG

Một phương án thay thế cho cách tiếp cận hình thức đối với pháp quyền đó là bằng cách chú trọng vào những kết quả về mặt nội dung (mà pháp quyền có thể mang lại) như “công lý” hay “công bằng”. Cách tiếp cận này không quan tâm tới những điều luật chính thức, trừ khi chúng đóng góp vào thành tựu của một mục tiêu nội hàm cụ thể nào đó của hệ thống pháp luật. Khác với cách tiếp cận về mặt thủ tục và hình thức – vốn không hề đả động gì tới tính đúng sai – cách tiếp cận về mặt nội dung được định hướng bởi tầm nhìn mang tính đạo đức của một hệ thống pháp lý tốt, và việc đánh giá hệ thống pháp luật sử dụng pháp quyền theo kiểu này được dựa trên việc hệ thống này đạt tới độ lý tưởng ở mức nào (Dworkin 1985).

Ưu điểm chính của định nghĩa pháp quyền này là có thể đặt được câu hỏi một cách hiển ngôn để so sánh pháp quyền với một cái gì đó thông thường được xem là tốt và ai cũng muốn. Pháp quyền được xem là tốt theo cách này bởi vì nó được định nghĩa như thế. Điều này khá hấp dẫn, đầu tiên là vì những quyết định chủ quan được đưa ra một cách rõ ràng, không mập mờ, thay vì bị ẩn đi sau các tiêu chí hình thức, và thứ hai là vì cụm từ “pháp quyền” sẽ mang ý nghĩa rất tích cực. Nhiều người không thể chấp nhận bất cứ một định nghĩa nào mà cho phép, dù chỉ là trong lý thuyết, một chế độ áp bức hoặc bất công sở hữu được pháp quyền.

Tuy vậy, mối liên hệ rành mạch này giữa pháp quyền với một vài khái niệm mang nội hàm tốt đẹp cũng có một vài nhược điểm. Đầu tiên và dễ thấy nhất là việc xác định tính công bằng của một phán xét nào đó đòi hỏi một quyết định chủ quan và thường cực kỳ phức tạp. Thứ hai, định nghĩa pháp quyền là một hệ thống pháp luật tốt dễ làm cho khái niệm đó trở nên không rõ ràng và dẫn đến không có tính thực tế nhiều. Tại sao chúng ta lại mất công bàn bạc về một xã hội có hay không có pháp quyền khi mà điều chúng ta đang thực sự muốn hỏi là cái xã hội mình sống có tốt hay là không? Thứ ba, sẽ rất khó để thiết lập mối quan hệ giữa luật pháp và những thành tựu xã hội đạt được trong cách định nghĩa pháp quyền này. Hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp có một xã hội sống dưới một hệ thống pháp luật tồi hoặc là không hề có bất cứ một hệ thống luật pháp nào, nhưng vẫn đạt được sự công bằng thực chất nếu xét theo những tiêu chí chuẩn mực đã được chọn. Mặt khác, chúng ta có thể hình dung một xã hội với những bộ luật và những cơ quan hành pháp hoàn hảo theo đúng chuẩn mực đã định, nhưng nơi đó luật pháp lại không được xem trọng, không ảnh hưởng gì tới đời sống xã hội, và ở nơi đó những hành vi xấu xảy ra một cách thường xuyên. Vậy loại xã hội nào có nhiều pháp quyền hơn nếu xét theo lăng kính nội hàm? Luật pháp cần phải tốt hay là những thành quả xã hội đạt được cần phải tốt? Nếu như là luật pháp cần phải tốt thì pháp quyền theo định nghĩa hình thức chẳng phải thỏa mãn hay sao? Nếu những kết quả cho xã hội mới là cái cần làm cho tốt, thì việc gì phải tốn thời gian bàn bạc về luật pháp nữa?

ĐỊNH NGHĨA THEO CHỨC NĂNG

Hướng tiếp cận thứ ba đối với pháp quyền tương tự như định nghĩa theo nội dung, nhưng cố gắng tránh những vấn đề chuẩn mực, vốn khó xác định, bằng cách tập trung vào hiệu quả của luật pháp và hệ thống pháp lý khi thực thi một số chức năng như: hạn chế sự lộng hành của chính phủ, dễ dàng phán đoán các quyết định pháp lý, hoặc một sự kết hợp của cả hai chức năng trên (Hayek 1960). Một ví dụ của cách nhìn này là: một xã hội mà nơi đó nhân viên chính phủ có rất ít hoặc không có chút quyền nào để lộng hành thì có chỉ số pháp quyền cao, còn một xã hội mà chính quyền chuyên chế thì nơi đó có chỉ số pháp quyền thấp nhất.

Định nghĩa pháp quyền theo chức năng đồng nhất rộng rãi với ý nghĩa truyền thống của cụm từ trong tiếng Anh (rule of law) và thường được mang ra để so sánh với “rule of man” – tức “nhân trị”. Nó cũng có một ưu điểm và định nghĩa pháp quyền theo những tiêu chí liên quan tới kết quả, nhưng không đòi hỏi những phán quyết mang tính đạo đức về các kết quả được mong đợi đó. Định nghĩa theo chức năng đủ hẹp tới mức nó không chồng chéo lên những khái niệm tổng quát, và nó làm cho những câu hỏi liên quan tới mối quan hệ giữa những đặc điểm hình thức và pháp quyền, và giữa pháp quyền đối với những mục tiêu về kết quả, có thể nghiên cứu được chứ không phải chỉ đơn thuần là một cái vòng luẩn quẩn.

Tuy nhiên, định nghĩa theo chức năng cũng gặp phải một số khó khăn. Thứ nhất, cũng giống như với định nghĩa về nội dung, mối quan hệ giữa bản thân hệ thống pháp luật với mục tiêu mang tính chức năng có thể gây ra những vấn đề. Có thể giới hạn các nhân viên chính quyền hoặc phán đoán được các quyết định pháp luật bằng những phương cách không liên quan đến hệ thống pháp luật. Giả sử, có thể trong một xã hội nào đó công chức có ít quyền tùy nghi ra quyết định hơn so với nước láng giềng dù cho nước láng giềng này có nhiều điều luật hạn chế quyền quyết định của công chức hơn. Vậy đất nước nào có nền pháp quyền tốt hơn căn cứ theo định nghĩa theo chức năng? Một vấn đề khác là việc xem xét “khả năng dự đoán pháp luật” hoặc là “hạn chế sự lộng hành của nhân viên nhà nước” hay bất cứ một chức năng nào khác có thể làm cho việc đưa ra bất cứ một tuyên bố cuối cùng về mức độ pháp quyền của một xã hội đó trở nên khó khăn. Các nhân viên chính phủ có thể phải đưa ra hàng ngàn quyết định mỗi ngày. Một vài trong số họ có thể bị hạn chế ở mức cao, trong khi đó một số khác thì không. Việc tổng hợp các mức độ chuyên quyền của mỗi nhân viên trong khi đưa ra mỗi kiểu quyết định để cho ra mức độ tổng quát của pháp trị là không rõ ràng một chút nào.

Một ý phụ nữa mà định nghĩa theo chức năng minh họa mạnh mẽ nhất đó là mặc cho những lời hùng biện đương đại, không có một nguyên nhân suy diễn nào để tin rằng pháp quyền (dù là định nghĩa theo chức năng hay hình thức) luôn luôn nhất thiết phải là một điều tốt. Ví dụ về việc công chức nhà nước có quyền tùy nghi quyết định chẳng hạn. Công chức có thể tùy nghi ra quyết định thì thường là một điều tệ và khi đó chúng ta gọi hành động này là “lộng hành”. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác thì sự tùy nghi đó lại có thể là một điều tốt mà chúng ta thường vẫn hay gọi là “linh động”. Nhưng tính linh động hay lộng hành có thể đơn giản chỉ là hai mặt của cùng một đồng xu. Quyền tùy nghi quyết định được dùng vì mục đích tốt hay xấu lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Trong khi vẫn thường được xem là một điều tốt, pháp quyền thỉnh thoảng có thể mang lại nhiều vấn đề. (Điểm này tất nhiên không áp dụng với định nghĩa về nội dung bởi vì theo định nghĩa đó, pháp quyền luôn là tốt.)

Kết luận

Những người hoạch định chính sách cần phải làm rõ việc họ định nghĩa pháp quyền như thế nào bởi vì những đáp án cho rất nhiều câu hỏi mà họ quan tâm như: liệu pháp quyền có thúc đẩy sự phát triển kinh tế, hoặc là liệu nền dân chủ có phải là điều kiện tiên quyết nhất định phải có đối với pháp quyền hay không, và nhiều câu hỏi khác nữa, phụ thuộc rất nhiều vào định nghĩa nào về pháp quyền đang được dùng. Hơn nữa, sự đa dạng trong khái niệm pháp quyền rất có thể tạo nên sự mập mờ và hiểu nhầm giữa những nhà tài trợ và nước nhận viện trợ, hoặc thậm chí ngay giữa những thành viên của cùng một cộng đồng.

Có lẽ điểm quan trọng nhất cho các nhà phân tích phát triển, các nhà hoạch định chính sách, và cộng đồng các nhà tài trợ nói chung cần ghi nhớ đó là pháp quyền có nhiều khái niệm khác nhau. Tất cả những khái niệm này đều có vấn đề, và loại nào phù hợp sẽ phụ thuộc vào nhiệm vụ mà nó phải giải quyết. Nhưng ưu điểm cũng như nhược điểm của những khái niệm khác nhau này và quan trọng hơn là sự khác nhau giữa những định nghĩa này thì cần phải luôn được ghi nhớ. Quả thực, xét cho cùng thì có lẽ sẽ tốt hơn nếu những nhà tài trợ và hoạch định chính sách có thể tránh những hùng biện mơ hồ về pháp quyền và đặt ra những mục tiêu cải cách cụ thể hơn.
Lê Duy chuyển ngữ
Nguồn dịch: Tạp chí Phía Trước
Theo Book Hunter Club

Nhà NC Nguyễn Đắc Xuân : Nhân danh chủ nghĩa xã hội là « bất chính »

Đăng bởi Anh vào Thứ Tư

Ông Nguyễn Phú Trọng trên đoàn Chủ tịch Đại hội Đảng 11 ngày 12/01/2011
Ảnh: REUTERS/Kham

Thanh Phương (RFI)

Trong một bức thư gởi Ban chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam, đề ngày 28/07/2014, nhiều đảng viên kỳ cựu, đứng đầu là thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, kêu gọi các nhà lãnh đạo Việt Nam từ bỏ « đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội » để chuyển sang « đường lối dân tộc và dân chủ ».

Bức thư kêu gọi lãnh đạo Đảng và Nhà nước « thống nhất nhận định » về mưu đồ và hành động của Trung Quốc đối với Việt Nam, từ bỏ những nhận thức « mơ hồ, ảo tưởng », có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc.

Đặc biệt, những người ký tên vào bức thư yêu cầu Đảng phải công bố những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v…

Những người ký tên cũng kêu gọi gọi các lãnh đạo Việt Nam phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế « nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa » của Việt Nam, đồng thời củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven Biển Đông, trong cuộc đấu tranh chống « mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn độc chiếm vùng biển này thành ao nhà của mình ».

Trong số 61 đảng viên kỳ cựu ký tên vào bản tuyên bố này có nhà văn và nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Đắc Xuân tại thành phố Huế, nguyên Trưởng Đại diện báo Lao động tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên. Ông Nguyễn Đắc Xuân đã vào Đảng từ năm 1973, tức là có hơn 40 năm tuổi Đảng, thế nhưng bây giờ, đối với ông , đảng Cộng Sản Việt Nam không thể tiếp tục nhân danh chủ nghĩa xã hội để nắm độc quyền nữa, vì làm như thế là « bất chính ».

‘Đảng viên không còn tha thiết CNXH’

Ngoại trừ các đảng viên nắm quyền, đa số các đảng viên đã không còn tin vào chủ nghĩa xã hội?

Đa số các đảng viên về hưu ‘không còn tha thiết với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội nữa’, một đảng viên kỳ cựu tham gia ký tên vào thư ngỏ gửi Ban chấp hành Trung ương Đảng nói với BBC.

Trao đổi với BBC từ Huế, ông Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa có hơn 40 năm tuổi Đảng, còn nói việc ông ký vào thư ngỏ là ‘thể hiện trách nhiệm của một đảng viên trước Đảng’.

Ông Xuân là một trong số 61 đảng viên lão thành ký tên vào bức thư ngỏ mới đây yêu cầu Đảng ‘từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội’ và ‘từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng’ trong quan hệ với Trung Quốc’.

‘Trách nhiệm của đảng viên’

Ông Xuân nói rằng những kiến nghị nêu trong thư ngỏ là những vấn đề mà ‘ông đã suy nghĩ nhiều năm rồi’.

“Khi có một tập thể với những đảng viên tử tế mà tôi rất quý trọng thảo ra một bức thư ngỏ thì tôi rất vui được ký chung với họ,” ông nói.
"Trừ những người vì quyền lợi, vì chức vụ này kia còn các đảng viên về hưu từ Bộ Chính trị trở xuống không ai còn tha thiết với chủ nghĩa xã hội cả."
Nguyễn Đắc Xuân, đảng viên lão thành ở Huế

Ông cho biết thư ngỏ được đưa ra vào thời điểm Đảng đang chuẩn bị cho Đại hội lần thứ 12 (vào đầu năm 2016) để ‘đóng góp ý kiến cho Trung ương tham khảo để họ hoạch định chính sách sắp tới của Đảng’.

Với lại, tình hình Trung Quốc đặt giàn khoan trên Biển Đông, theo ông Xuân, ‘đã bộc lộ ra hết âm mưu trước mắt và lâu dài của Trung Quốc muốn xâm lược Việt Nam’.

“Trách nhiệm của đảng viên là tham gia với Trung ương để làm sao khắc phục những khuyết điểm để có tương lai tốt hơn,” ông nói và cho biết với tư cách đảng viên ông sẽ nói lên ý kiến của ông trong các sinh hoạt chi bộ từ nay đến Đại hộ 12 và sẽ có những bài viết ‘cụ thể hóa’ những kiến nghị trong thư ngỏ trên trang blog riêng của ông.

“Đôi khi Trung ương không thấy hết trong khi tôi về hưu ở cùng quần chúng tôi có thể thấy được những nhược điểm trong sự lãnh đạo của Đảng.”

“Trừ những người vì quyền lợi, vì chức vụ này kia còn các đảng viên về hưu từ Bộ Chính trị trở xuống không ai còn tha thiết với chủ nghĩa xã hội cả,” ông cho biết.

‘Đảng viên biết Đảng sai’


Liệu Đảng Cộng sản có chấp nhận từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin?

Ông nói những sai lầm của Đảng nêu trong thư ngỏ các đảng viên ‘đều thấy cả’.

“Nhưng với sự lãnh đạo toàn trị thì việc đảng viên đưa ý kiến lên Bộ Chính trị, lên Trung ương không phải dễ. Họ nghĩ rằng có tới nơi đi nữa thì cũng không được quan tâm nên họ lặng lẽ chờ thời,” ông giải thích.

Ông Nguyễn Đắc Xuân nói rằng dù Đảng có chấp nhận thư ngỏ của các ông hay không thì ‘xu thế là phải dân chủ hóa’ vì ‘không dân chủ thì không có sức mạnh và không đoàn kết được dân tộc’.

Ông Nguyễn Đắc Xuân nói ông vào Đảng 'không phải vì chủ nghĩa xã hội'

Ông cũng nói là việc ông yêu cầu từ bỏ con đường chủ nghĩa xã hội ‘không đi ngược lại niềm tin lúc đầu của ông khi vào Đảng’.

“Tôi vào Đảng trong rừng – là Đảng Nhân dân Cách mạng – để đóng góp vào công cuộc thống nhất đất nước,” ông nói, “Hầu như trong miền Nam những người hoạt động chống Mỹ hết 99% là vì thống nhất đất nước chứ không vì chủ nghĩa xã hội.”

Tuy nhiên, sau năm 1975, mặc dù ông nói ông vẫn tiếp tục ở trong Đảng Cộng sản nhưng đến bây giờ ông thấy chủ nghĩa cộng sản ‘không còn hợp thời nữa’.

“Cái gì trở ngại thì phải bỏ để xây dựng đất nước,” ông nói.

BBC

Tác dụng pháp lý của thư Phạm Văn Đồng qua lăng kính ba phán quyết Tòa án Quốc tế

Đăng bởi Anh vào Thứ Bảy

Ba phán quyết của Tòa án Quốc tế mà học giả Phạm Quang Tuấn trưng ra làm bằng chứng dưới đây có thể xem là ba thiết chứng chỉ rõ tác dụng phản trắc đắc lực của Công hàm/Công thư Phạm Văn Đồng nếu Việt Nam đem vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa ra trước Tòa án Quốc tế. Đọc xong không ai không thảng thốt đến nhói tim. Điều ông Giám đốc Minh triết Việt Nguyễn Khắc Mai nói cách đây ít lâu bỗng trở thành một ám ảnh ghê gớm: “Công hàm Phạm Văn Đồng là một tai họa cho Việt Nam trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc”, là “một công thư phản động”, “có tác hại phản quốc” (Xem ở đây). Thử nghĩ, công thư của một ông Thủ tướng là “phản động”, “phản quốc” thì bản thân ông Thủ tướng và bộ sậu Chính phủ của ông ta là gì? Càng ngày càng thấy cái gọi bằng liên minh cộng sản nhân danh chủ nghĩa vô sản quốc tế trong thế kỷ XX chỉ ẩn giấu phía sau độc nhất mỗi mưu đồ thôn tính lãnh thổ của nước lớn đối với nước nhỏ.

Alexandre Soljenitsyne đã từng khẳng quyết: “Quốc tế – L’International – là một sai lầm, vì bản thân chữ “inter” có nghĩa là giữa và giữa các quốc gia không có một nền văn hóa chung nào cả” (L'international est une aberration, car “inter” signifie entre et entre les nations il n'y a aucune culture commune). Ngu dại thay những ai vì quá nôn nóng tìm đường cứu nước vào những năm 20-30 thế kỷ trước, đem tấm lòng nhiệt huyết băng vời sang Tàu sang Nga để chỉ mua lấy một sợi dây thừng về quấn chân dân tộc.

Nhưng cho đến giờ phút này mà vị nào trong thế hệ cháu con những con người ngu dại kia còn cuồng tưởng rằng bè lũ Trung Nam Hải có thể cứu được thân phận “cùng hội cùng thuyền” về ý thức hệ, hay đúng hơn là quyền lợi ích kỷ cho phe đảng, thì không chỉ lú lẫn thôi đâu, mà chóng hay chầy nhất định sẽ phải chịu sự phán xét khắc nghiệt nhất của lịch sử. Quả như lời chí sĩ Phan Châu Trinh: “Gớm thay một lũ hồ tinh / Nương hơi dựa bóng tập tành đã quen”.

Nguyễn Huệ Chi


Gần đây một số tác giả, trong đó có cả những luật sư, đã phân tích giá trị pháp lý của thư (hoặc công hàm hay công thư [1]) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1958) dựa theo các nguyên tắc pháp lý quốc tế. Dĩ nhiên, biết những nguyên tắc luật pháp nào phải áp dụng là điều rất quan trọng, nhưng điều quan trọng chẳng kém là phải biết Tòa diễn giải và áp dụng những nguyên tắc đó ra sao. Bài này duyệt qua phán quyết của Tòa án Quốc tế về ba vụ án tranh chấp chủ quyền: đảo Pedra Branca, Đông Greenland và đền Preah Vihear.

Trong vụ Pedra Branca có một lá thư từ một viên Đổng lý tương tự như thư Phạm Văn Đồng. Vụ Đông Greenland không có văn kiện chính thức mà chỉ có một lời nói từ một vị Ngoại trưởng. Vụ Preah Vihear không có văn kiện hay lời nói nào từ bỏ chủ quyền của mình hay công nhận chủ quyền của nước khác. Cả ba việc này đều đóng một phần quan trọng đưa đến việc Tòa xử mất chủ quyền. Từ đó, ta sẽ có thể suy ra vài điều về tác dụng của thư Phạm Văn Đồng nếu chủ quyền Hoàng sa - Trường sa được đem ra kiện trước tòa. Người nào không có thì giờ đọc hết có thể đi thẳng đến câu cuối (kết luận 14) bài này.

Lưu ý:

Vài lý lẽ trong bài này có thể khiến tác giả bị gọi là “thân Tàu” hay “Việt gian”. Trong bối cảnh Việt Nam có thể kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, xin hãy coi bài này như một cố gắng kiểm điểm áo giáp của mình trước khi ra trận, xem có lỗ thủng nào không để tìm cách vá lại. Nếu tìm ra lỗ thủng thì “Việt gian” “thân Tàu” không phải là người kiểm điểm, mà chính là người gây ra lỗ thủng.

Phần I. Ý định trong thư Phạm Văn Đồng

Như ta sẽ thấy trong các phần sau, ý định (intention) diễn tả trong một lá thư hay văn kiện chiếm một vai trò chính yếu trong sự phân xử của Tòa án Quốc tế. Vì có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung của thư Phạm Văn Đồng nên cần xem lại thư này nói gì. Nguyên văn thư Phạm Văn Đồng như sau ([A] và [B] do tác giả bài này đánh số thêm để tiện việc bàn luận):

Kính gửi đồng chí Chu Ân Lai,

Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa tại Bắc Kinh.

Thưa đồng chí Tổng lý

Chúng tôi xin trân trọng thông báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

[A] Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

[B] Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958

PHẠM VĂN ĐỒNG

Thủ tướng Chính phủ

nước Việt-nam dân chủ cộng hoà

Thư này “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố” ngày 4/9/1958 của Trung Quốc mà nội dung như sau (theo bản tiếng Anh của Bộ Ngoại giao Mỹ viện dẫn tạp chí Peking Review [2]):

Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, gồm Trung Quốc đất liền và các đảo dọc bờ, Ðài Loan và các đảo lân cận, quần đảo Penghu và tất cả các đảo khác trên biển cả thuộc Trung Quốc.

(2) Đường cơ sở của lãnh hải thuộc đất liền Trung Quốc và các đảo dọc bờ biển là các đường thẳng nối liền các điểm cơ sở trên bờ và các đảo ngoại biên dọc bờ biển [offshore outlying islands]; Vùng biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là lãnh hải của Trung Quốc. Vùng biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong đường cơ sở, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongding, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được đi vào hải phận Trung Quốc và vùng trời trên hải phận này.

(4) Những nguyên tắc trong đoạn (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Trường Sa], và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Ðài Loan và Penghu hiện còn bị chiếm đóng bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Đây là vấn đề nội bộ của Trung Quốc, các nước ngoài không được xen vào.

Thư Phạm Văn Đồng là một lá thư chính thức (công thư hay công hàm), ký tên và đóng dấu bởi Thủ tướng một quốc gia, người đứng đầu Chính phủ, nhân danh Chính phủ để nói và đầy đủ tư cách để đại diện quốc gia của mình.

Bức thư gồm hai câu chính: câu đầu (A) bày tỏ lập trường, thái độ: tán thành bản tuyên bố của Trung Quốc. Câu sau (B) nói về hành động cụ thể: chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước phải tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc.

Nhiều tác giả và phát ngôn viên Việt Nam (chẳng hạn [3]) cho rằng vì thư Phạm Văn Đồng không viết rõ những chữ “Hoàng sa” và “Trường sa” nên không thể nói là đã chấp nhận chủ quyền Trung Quốc ở hai quần đảo trên. Họ cho rằng bản tuyên bố nói về bề rộng 12 hải lý là ý chính, những ý khác (kể cả hải phận quanh Hoàng sa - Trường sa) chỉ là ý phụ, thư Phạm Văn Đồng chỉ tán thành ý chính này chứ không tán thành những ý phụ. Những người sính ngôn ngữ luật gọi đây là “nguyên tắc bốn góc”: chỉ được hiểu từ những gì được viết ra trong văn bản, không được suy diễn thêm.

Có người còn viện dẫn nguyên tắc “phải giải thích văn bản theo cách nào ít hại nhất cho tác giả” trong luật quốc tế. Tuy nhiên, dù giải thích “trong bốn góc” và “ít hại nhất” thì cũng vẫn phải hợp lý và tuân theo những nguyên tắc logic phổ quát và các định luật ngôn ngữ căn bản. Chẳng hạn, trong vụ Pedra Branca ta sẽ thấy Tòa hiểu câu “[chúng tôi] không đòi hỏi sở hữu [đảo này]” là “[chúng tôi] không đòi hỏi chủ quyền [đảo này]”, dù theo luật pháp thì không có sở hữu chưa chắc là không có chủ quyền.

Thử áp dụng nguyên tắc “trong bốn góc”, ta đọc thấy rằng ông Phạm Văn Đồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố”. Lưu ý chữ “bản”, nói về cả văn bản, chứ không phải chỉ nói về một trong những tuyên bố trong văn bản: mặc nhiên là ông Phạm Văn Đồng đã tán thành toàn bộ nội dung của bản tuyên bố đó. Nếu chỉ tán thành một phần và không tán thành phần khác thì không thể nói là tán thành bản tuyên bố được. Bản tuyên bố nói trong đoạn 4 rằng lãnh hải Trung Quốc bọc quanh Hoàng Sa và Trường Sa, tức là ông Phạm Văn Đồng đã tán thành điều đó, không cần phải nhắc lại trong thư của mình.

Lấy ví dụ, khi tòa án hỏi nhân chứng: “Ông/bà có hứa sẽ nói sự thật, tất cả sự thật và không gì khác ngoài sự thật?” (Do you swear to say the truth, the whole truth and nothing but the truth?), nhân chứng chỉ cần trả lời “I do” là đủ hiểu họ hứa tất cả những điều được hỏi, chứ không thể hiểu là họ chỉ hứa phần 1 nhưng không hứa phần 2 hay 3, v.v., và chắc chắn là không thể cãi rằng “tôi chỉ nói ‘I do’ chứ tôi đâu có hứa gì đâu?”. Hoặc trong thủ tục kết hôn, khi được hỏi “Anh/chị có hứa/thề sẽ...” (theo sau là nhiều lời hứa) cô dâu chú rể chỉ cần trả lời “Có” (I do) chứ không cần phải nhắc lại tất cả các lời hứa người hành lễ vừa đọc.

Có người cho rằng câu B trong thư Phạm Văn Đồng làm hẹp lại nghĩa của câu A: câu A tán thành chung chung, câu B mới viết cụ thể là tôn trọng hải phận 12 hải lý. Khi mà nói về một điều tức là loại ra hay bác bỏ những điều không nói. Lý luận đó chỉ có thể đúng nếu không có đoạn “tán thành bản tuyên bố” trong câu A, vì không thể vừa tán thành một bản văn vừa không tán thành nhiều điều trong bản văn đó. Hơn nữa, câu B không phải là làm rõ nghĩa câu A như nhiều người lý luận, mà nói về một hành động cụ thể (chỉ thị các cơ quan...) phát sinh từ sự tán thành trong câu A.

Có người cho rằng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa không cần thiết phải tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa vì những đảo này đang dưới sự quản lý của Việt Nam cộng hòa. Lý luận như vậy là lẫn lộn chủ quyền với sự quản lý. Hiến pháp Việt Nam dân chủ cộng hòa nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia, tức là Việt Nam dân chủ cộng hòa tự coi là có chủ quyền trên mọi phần đất Việt Nam từ bắc tới nam, và mọi hải đảo.

Có người [4] viết rằng, dựa theo “nguyên tắc thực lòng” (principle of good faith) trong luật quốc tế, vì Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là những người rất yêu nước, đã từng hy sinh xương máu để bảo vệ chủ quyền đất nước nên họ không thể thực lòng muốn nhường lãnh thổ cho nước khác, do đó Tòa án Quốc tế sẽ không nhìn nhận ý định đó trong thư Phạm Văn Đồng. Diễn giải “thực lòng” theo kiểu này thì thật kỳ quặc, vì như vậy mỗi nước sẽ có quyền tha hồ tuyên bố, ký hiệp ước lừa bịp các nước khác, rồi tuyên bố rằng tôi không “thực lòng” (in good faith) khi viết hay ký những văn kiện đó và do đó chúng không ràng buộc tôi được! Diễn giải kiểu đó thì “nguyên tắc thực lòng” sẽ phải gọi là “nguyên tắc dối trá” (principle of bad faith)!

Thực ra, sự “thực lòng” trong giao dịch quốc tế phải hiểu là người viết hay ký thực lòng hiểu ý nghĩa của cái mình đang viết hay đang ký như thế nào, và sẽ thực lòng thi hành những gì đã hứa, chứ không có nghĩa là khi mình nói dối, nói mà “không thực lòng”, thì không sợ sẽ bị ràng buộc. Nguyên tắc này cần thiết để diễn dịch những hiệp ước, văn kiện trong đó có thể có sự hiểu lầm do khác biệt văn hóa chẳng hạn, và để đảm bảo là mỗi nước thực tâm thi hành những điều đã hứa [5].

Nếu ông Phạm Văn Đồng thực lòng chỉ tán thành việc cho bề rộng lãnh hải Trung Quốc rộng 12 hải lý thì ông vẫn có thể bỏ đoạn A đi, chỉ viết rằng: “Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung-quốc và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý ấy”. Như vậy chẳng đủ biểu lộ sự đoàn kết với nước anh em hay sao? (“Tôn trọng” chưa chắc đã là “tán thành”, tôn trọng nói về hành xử, tán thành nói về thái độ, tâm ý.)

Nói tóm lại, khó chối cãi rằng trong thư Phạm Văn Đồng, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tán thành hay chấp nhận Trung Quốc có chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường sa. Ít nhất, thư này không phản ứng gì về câu “áp dụng cho... quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], quần đảo Nam Sa [Trường Sa]” trong bản tuyên bố của Trung Quốc: ta sẽ thấy là điều này rất quan trọng.

Phần II. Vụ án Pedra Branca

Tóm tắt vụ án

Pedra Branca, Middle Rocks và South Ledge là những đảo nhỏ nằm trong eo biển Malacca giữa Singapore và Malaysia. Thế kỷ 19 trở về trước những đảo này thuộc về vương quốc Johor, nay là một bang của Malaysia. Năm 1844 Johor cho phép chính quyền thuộc địa Anh xây và sau đó liên tục cai quản một hải đăng trên Pedra Branca. Năm 1979 Malaysia (quốc gia kế thừa Johor) công bố một bản đồ vẽ nhóm đảo này nằm trong lãnh hải của mình. Singapore (quốc gia kế thừa chính quyền thuộc địa Anh) phản đối. Hai nước đưa ra Tòa án Quốc tế phân xử năm 2003. Tòa xử là Pedra Branca thuộc về Singapore, Middle Rocks thuộc về Malaysia, còn South Ledge là đảo chìm khi nước lên, nên theo luật biển chủ quyền sẽ tùy thuộc nằm trong lãnh hải của nước nào (lãnh hải khu này chưa phân định xong) [6, 7].

Một sự kiện nổi bật trong quá trình này xảy ra năm 1953. Năm đó, chính quyền thuộc địa Anh viết thư cho Johor yêu cầu làm rõ tình trạng pháp lý của Pedra Branca. Quyền Đổng lý Tiểu bang (Acting State Secretary) Johor viết thư trả lời. Vì đáp thư Johor được tòa coi là có ý nghĩa rất quan trọng trong vụ án này, và có nhiều điểm tương đồng với thư Phạm Văn Đồng, nên cần biết rõ nội dung của nó. Nguyên văn lá thư như sau (đoạn 196 trong [6]):

“I have the honour to refer to your letter . . . dated 12th June 1953, addressed to the British Adviser, Johore, on the question of the status of Pedra Branca Rock some 40 miles from Singapore and to inform you that the Johore Government does not claim ownership of Pedra Branca.”

dịch:

Tôi xin trân trọng đề cập đến thư của ngài ngày 12 tháng 6 năm 1953, gửi cho Cố vấn Anh, Johore, về tình trạng của Pedra Branca cách Singapore khoảng 40 dặm và xin thông báo rằng Chính phủ Johore không đòi quyền sở hữu Pedra Branca.”

Những tiêu chuẩn pháp lý được Tòa áp dụng

Tòa đã xác định những tiêu chuẩn pháp lý được áp dụng như sau (“đoạn xxx” chỉ những đoạn có số thứ tự trong phán quyết của Tòa [6]):

· Muốn kết luận là đã có sự thay đổi chủ quyền thì cần có những bằng cớ rõ rệt, không thể nghi ngờ, căn cứ vào cách hành xử hai bên và những sự kiện liên hệ (đoạn 122).

(122. Critical for the Court’s assessment of the conduct of the Parties is the central importance in international law and relations of State sovereignty over territory and of the stability and certainty of that sovereignty. Because of that, any passing of sovereignty over territory on the basis of the conduct of the Parties, as set out above, must be manifested clearly and without any doubt by that conduct and the relevant facts. That is especially so if what may be involved, in the case of one of the Parties, is in effect the abandonment of sovereignty over part of its territory.)

· Luật pháp quốc tế không nhấn mạnh vào hình thức (chẳng hạn, một hiệp ước chuyển nhượng chủ quyền), thậm chí không cần hai bên nói ra (tacit), mà tập trung vào ý định (intention) của hai bên. Sự thay đổi chủ quyền có thể suy diễn từ cách hành xử của hai bên.

(120. Any passing of sovereignty might be by way of agreement between the two States in question. Such an agreement might take the form of a treaty,[...] The agreement might instead be tacit and arise from the conduct of the Parties. International law does not, in this matter, impose any particular form. Rather it places its emphasis on the parties’ intentions (cf. e.g. Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), Preliminary Objections, I.C.J. Reports 1961, pp. 17, 31).)

· Nếu một nước không phản ứng khi cần thiết, chẳng hạn khi nước khác khẳng định chủ quyền trên vùng đất của mình, thì chủ quyền có thể coi là đã chuyển qua nước kia. Hành xử này gọi là sự đồng ý hay chấp nhận ngầm (acquiescence).

(121. Under certain circumstances, sovereignty over territory might pass as a result of the failure of the State which has sovereignty to respond to conduct à titre de souverain of the other State or, as Judge Huber put it in the Island of Palmas case, to concrete manifestations of the display of territorial sovereignty by the other State (Island of Palmas Case (Netherlands/United States of America), Award of 4 April 1928, RIAA, Vol. II, (1949) p. 839). Such manifestations of the display of sovereignty may call for a response if they are not to be opposable to the State in question. The absence of reaction may well amount to acquiescence. The concept of acquiescence “is equivalent to tacit recognition manifested by unilateral conduct which the other party may interpret as consent . . .” (Delimitation of the Maritime Boundary in the Gulf of Maine Area (Canada/United States of America), Judgment, I.C.J. Reports 1984, p. 305, para. 130). That is to say, silence may also speak, but only if the conduct of the other State calls for a response.)

Tóm tắt lý luận và phán quyết của Tòa

Để phân xử chủ quyền, Tòa đã xem xét quá trình liên quan đến chủ quyền trong từng giai đoạn lịch sử:

(i) Thời kỳ 1844 trở về trước: Sau khi xem xét những bằng chứng lịch sử, Tòa kết luận rằng ở thời điểm 1844, Pedra Branca và Middle Rocks thuộc về Johor (nay là một tiểu bang của Malaysia).

(ii) Trong thời gian 1844-1852, Johor đã cho phép Anh xây hải đăng trên Pedra Branca. Tòa không kết luận gì về sự kiện này, và cho rằng việc này không có nghĩa là Johor từ bỏ chủ quyền.

(iii) Từ 1852 tới 1952, Johor không có động thái nào khẳng định chủ quyền trên các đảo liên hệ.

(iv) Năm 1953, để trả lời một lá thư từ Đổng lý Thuộc địa (Colonial Secretary) Singapore hỏi về chủ quyền Pedra Branca, quyền Đổng lý Tiểu bang (Acting State Secretary) Johor viết lá đáp thư như đã nói, khẳng định là Johor “không sở hữu” Pedra Branca. Tòa viết trong phần Kết luận rằng lá thư này “có ý nghĩa lớn” (“has major significance” đoạn 275) và kết luận rằng ở thời điểm 1953 Johor đã hiểu (understood), tức là đã chấp nhận, rằng họ không còn chủ quyền trên Pedra Branca (đoạn 223).

(v) Trong khoảng thời gian 1953-1980 Singapore đã nhiều lần khẳng định chủ quyền trên Pedra Branca nhưng Johor/Malaysia không phản ứng. Không những thế đã có những tài liệu và bản đồ Malaysia cho thấy rằng Pedra Branca thuộc Singapore.

Căn cứ vào quá trình trên, Tòa kết luận rằng vị trí hai bên đã dần dà “tiến hóa hội tụ” (convergent evolution) về một quan điểm chung: chủ quyền Pedra Branca thuộc Singapore. Tuy nhiên Middle Rocks được cho là (vẫn) thuộc về Malaysia, vì không có một quá trình “tiến hóa hội tụ” tương tự.

Có thể tóm tắt phán quyết của Tòa như sau: Johor/Malasia đã mất chủ quyền Pedra Branca vì cách hành xử của họ trong suốt nhiều năm cho thấy rằng họ không còn coi đảo này thuộc về họ.

Nhận xét về phán quyết Pedra Branca

· Tuy đòi hỏi bằng chứng rõ rệt, không thể nghi ngờ được cho việc thay đổi chủ quyền, nhưng Tòa coi rằng hình thức của bằng chứng (chẳng hạn hiệp ước chính thức) không quan trọng, mà quan trọng là ý định (intention hay understanding) của hai bên, thông qua cách hành xử.

· Tòa đã xử cho Singapore được chủ quyền Pedra Branca, mặc dù ở thời điểm 1844 chủ quyền thuộc Johor (Malaysia) và sau đó không hề có hiệp ước nào chính thức chuyển nhượng chủ quyền.

· Tòa không căn cứ vào một văn kiện hay biến cố nào duy nhất, mà căn cứ vào một quá trình theo đó quan điểm của hai bên dần dần thay đổi theo cùng một hướng: sự thụ động của Johor/Malaysia từ 1844 tới 1952, đáp thư Johor 1953, sự thụ động của Malaysia khi Singapore thi hành chủ quyền trong thời gian 1953-1980.

· Tuy nhiên, tòa coi đáp thư Johor (1953) là “có ý nghĩa lớn” (has major significance) bởi vì nó cho thấy rằng ở thời điểm đó, Johor không còn coi Pedra Branca là của mình nữa.

· Để ý là Tòa viết (đoạn 222) rằng trong thư này chữ “sở hữu” - ownership – phải hiểu là “chủ quyền” – sovereignty, mặc dù Malaysia đã yêu cầu Tòa phân biệt hai khái niệm đó (đoạn 198): ta thấy là nguyên tắc diễn giải “ít hại nhất” hay “trong bốn góc” không thể đánh bại một cách hiểu hợp lý.

· Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor là một văn kiện chính thức từ bỏ chủ quyền (đoạn 226), nhưng tòa không chấp nhận (đoạn 228) vì nó chỉ được viết để trả lời một câu hỏi, nên không có tác dụng quyết định về mặt pháp lý (conclusive legal effect) [8].

· Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor gây ra estoppel (đoạn 226), nhưng tòa không chấp nhận (đoạn 228) vì thư đó không hội đủ các điều kiện cho estoppel, đặc biệt là nó đã không khiến cho Singapore làm gì thiệt hại cho mình. [9].

· Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor là một hành động đơn phương có tính cách ràng buộc (binding unilateral undertaking) (đoạn 226), nhưng Tòa không đồng ý (đoạn 229) vì đáp thư Johor không viết trong bối cảnh Anh tuyên bố chủ quyền trên Pedra Branca hay đang có tranh chấp, mà chỉ là để trả lời một câu hỏi [8].

· Tuy ba thỉnh nguyện trên của Singapore bị bác, nhưng điều đó không thay đổi kết quả tối hậu: Malaysia vẫn thua kiện.

Phần III. Vụ án Đông Greenland

Tóm tắt vụ án

Đảo Greenland được người Na Uy khám phá và định cư từ khoảng thế kỷ 10-11. Từ 1380 tới 1814 Na Uy là một phần của Đan Mạch. Đan Mạch đã kiểm soát Greenland và chủ quyền của Đan Mạch được một số nước khác ngầm công nhận (acquiesce). Tuy nhiên, những cơ sở của Đan Mạch đều nằm ở Tây Greenland và do đó Na Uy khi đã độc lập cho rằng Đan Mạch không có chủ quyền ở Đông Greenland. Sau nhiều thương nghị không có kết quả, năm 1931 Đan Mạch đem vụ này ra Tòa Công lý Quốc tế Thường trực (Permanent Court of International Justice), tiền thân của Tòa án Quốc tế. Năm 1933 Tòa xử Đan Mạch được chủ quyền toàn đảo Greenland [10].

Câu trả lời của Ngoại trưởng Ihlen

Bài này không đi vào chi tiết vụ án mà chỉ nói về một sự kiện quan trọng mà Tòa cho là có tính cách quyết định. Ngày 14/7/1919 trong một cuộc gặp mặt giữa Ngoại trưởng Đan Mạch và Ngoại trưởng Na Uy, Ngoại trưởng Đan Mạch nói rằng Đan Mạch sắp yêu cầu các nước công nhận chủ quyền Đan Mạch trên toàn thể Greenland, và hy vọng việc này sẽ không gặp khó khăn từ phía Na Uy. Ngoại trưởng Na Uy, ông Ihlen, nói rằng sẽ xem xét vấn đề, và ngày 22/7, trong một cuộc gặp mặt khác, Ihlen nói rằng Na Uy sẽ không gây khó dễ (“ne fera pas de difficultés”) về vấn đề này. Câu nói này được chính Ngoại trưởng Ihlen ghi nhận trong một biên bản, mà Tòa dịch từ tiếng Pháp như sau:

“The Danish Government has for some years past been anxious to obtain the recognition of all the interested Powers of Denmark's sovereignty over the whole of Greenland, and it proposes to place this question before the above-mentioned Committee at the same time. During the negotiations with the U.S.A. over the cession of the Danish West Indies, the Danish Government raised this question in so far as concerns recognition by the Government of the U.S.A., and it succeeded in inducing the latter to agree that, concurrently with the conclusion of a convention regarding the cession of the said islands, it would make a declaration to the effect that the Government of the U.S.A. would not object to the Danish Government extending their political and economic interests to the whole of Greenland.

The Danish Government is confident (he added) that the Norwegian Government will not make any difficulties in the settlement of this question.

I replied that the question would be examined.

14/7 - 19 Ih.”

“II. To-day I informed the Danish Minister that the Norwegian Government would not make any difficulties in the settlement of this question.

22/7 - 19 Ih.”

Tòa nhận xét về câu trả lời của Ihlen như sau (các đoạn đánh số là từ phán quyết của Tòa [10] ):

· Câu trả lời của Ihlen không có nghĩa là Ihlen công nhận Đan Mạch có chủ quyền Đông Greenland (tức là Ihlen có thể hiểu rằng ở thời điểm đó, Đan Mạch chưa coi là mình có chủ quyền Đông Greenland nhưng đang dự định mở rộng chủ quyền sang đó) (đoạn 188).

· Tuy nhiên câu trả lời của Ihlen là một lời hứa có tính cách ràng buộc Na Uy, bởi nó xuất phát từ một Ngoại trưởng, đứng trên cương vị đại diện nước mình để trả lời đại diện ngoại giao một nước khác, về một vấn đề thuộc thẩm quyền của ông ta. Tòa nhấn mạnh là kết luận này không thể nào chối cãi được (beyond dispute) (đoạn 192).

· Tòa coi tuyên bố của Ihlen là vô điều kiện và có tính cách quyết định (definitive) (đoạn 195).

· Do đó, Na Uy không được phản đối hay tranh giành (contest) chủ quyền của Đan Mạch ở Đông Greenland, và dĩ nhiên không được chiếm đóng phần đất nào ở Greenland (đoạn 202).

Nhận xét về phán quyết của Tòa

· Chỉ một lời nói (có biên bản) của một người có thẩm quyền đại diện quốc gia cũng có thể ràng buộc quốc gia đó về vấn đề chủ quyền. Điều này minh chứng rõ nguyên tắc “Luật pháp quốc tế không nhấn mạnh vào hình thức” mà ta đã thấy ở Phần II.

· Điều này cũng cho thấy là quan niệm “mọi sự thay đổi chủ quyền phải do quốc hội phê duyệt” là sai lầm. Quan niệm này đôi khi thấy trong các bài báo Việt Nam.

· Điều này cũng cho thấy là những bàn cãi trong cộng đồng và truyền thông tiếng Việt về gọi thư Phạm Văn Đồng là công hàm hay công thư là hoàn toàn vô bổ. Dù gọi là gì đi nữa thì nó cũng đã được ký tên và đóng dấu bởi một Thủ tướng, người đầy đủ thẩm quyền đại diện Chính phủ, và tuyên bố lập trường của Chính phủ.

Phần IV. Vụ án đền Preah Vihear

Tóm tắt vụ án

Preah Vihear là một ngôi đền cổ nằm sát biên giới Thái Lan-Cambodia. Đền này xây trên đỉnh một vách đá, cũng là đường phân thủy, chạy đại khái theo hướng đông-tây, nhìn về phía nam (vùng thấp) là Cambodia, nhìn về phía bắc (vùng cao) là Thái Lan.

Năm 1904, Thái Lan và Pháp (đại diện thuộc địa Cambodia) ký một hiệp ước về biên giới, theo đó thì sẽ dùng đường phân thủy làm biên giới ở khu vực này. Hai nước thành lập một ủy ban liên hợp để xác định biên giới. Áp dụng nguyên tắc đường phân thủy thì Preah Vihear thuộc Thái Lan. Tuy nhiên, năm 1907 sở địa đồ Pháp trình ủy ban liên hợp biên giới một địa đồ theo đó thì đường biên giới vẽ chệch về phía bắc đường phân thủy, khiến Preah Vihear nằm trong lãnh thổ Cambodia. Việc đó gây tranh chấp và được đưa ra phân xử tại Tòa án Quốc tế năm 1962. Tòa xử cho chủ quyền Preah Vihear thuộc về Cambodia [11].

Lý lẽ của Thái Lan

Cambodia chủ yếu dựa vào bản đồ 1907 để chứng tỏ chủ quyền của mình. Những lý lẽ chính của Thái Lan là:

1. Hai nước đã ký hiệp ước thỏa thuận nguyên tắc dùng đường phân thủy làm biên giới, theo đó thì Preah Vihear thuộc Thái Lan. Bản đồ 1907 là do Pháp vẽ và công bố, Thái Lan không dự phần, và đã vẽ sai vì không theo đúng đường phân thủy. Không có văn kiện chính thức nào nói rằng bản đồ này được ủy ban liên hợp 1904 chấp nhận.

2. Thái Lan đã liên tục thi hành chủ quyền ở đền Preah Vihear bằng cách chiếm đóng, quản lý.

Phán quyết của Tòa

Tòa chấp nhận rằng bản đồ 1907 “không có tính cách ràng buộc” ([11], trang 19). Tuy nhiên, nguyên tắc dùng đường phân thủy trong hiệp định biên giới 1904 cũng không ràng buộc nếu cả hai bên thỏa thuận không áp dụng nó trong trường hợp nào đó (“it was certainly within the power of the Governments to adopt such departures”) ([11], trang 20). Vấn đề là có sự thỏa thuận này không ở Preah Vihear, và điều này tùy thuộc vào ủy ban liên hợp 1904.

Tòa nhận xét rằng:

· Bản đồ 1907 đã được trình cho mọi thành viên ủy ban liên hợp 1904 và công bố rất trọng thể, gửi cho nhiều sứ quán Thái Lan và nhiều cơ quan quốc tế. Tuy nhiên, không có lời phản đối nào từ Thái Lan. Tòa cho rằng do đó Thái Lan đã đồng ý ngầm (acquiesce).

· Thái Lan nói rằng chỉ những viên chức thấp của họ thấy bản đồ 1907. Tòa cho rằng đó là lỗi của Thái Lan, nước này phải chịu hậu quả. Hơn nữa, sự sai biệt giữa đường biên giới và đường phân thủy quá rõ rệt nên không thể viện cớ lầm lẫn ([11], trang 24).

· Năm 1934-35, Thái Lan tự làm bản đồ lấy và nhận thấy sự sai biệt, nhưng vẫn không nói gì.

· Năm 1937, Thái Lan vẽ một bản đồ cho thấy Preah Vihear nằm trong lãnh thổ Cambodia.

· Năm 1947 Thái Lan và Pháp thương nghị ở Washington để hòa giải về các vấn đề biên giới, nhưng Thái Lan không đưa ra vấn đề Preah Vihear.

· Chuyến viếng thăm đền của bộ trưởng nội vụ Damrong năm 1930 như là khách của Pháp được coi là đặc biệt quan trọng. Năm 1930, một công sứ Pháp tại Cambodia lấy tư cách “chủ nhà” mời Hoàng thân Damrong, Bộ trưởng Nội vụ Thái Lan, tới thăm Preah Vihear và trương cờ Pháp tại đó. Ông này tới thăm mà không nói gì để khẳng định chủ quyền của Thái Lan. Tòa viết như sau: “Khó có thể tưởng tượng một sự khẳng định chủ quyền rõ ràng hơn thế từ phía Pháp. Việc đó đòi hỏi một phản ứng. Thái Lan đã không làm gì”, và việc đó cho thấy có vẻ Thái Lan đã “ngầm công nhận” (tacit recognition) chủ quyền của Cambodia trên Preah Vihear.

(When the Prince arrived at Preah Vihear, he was officially received there by the French Resident for the adjoining Cambodian province, on behalf of the Resident Superior, with the French flag flying. The Prince could not possibly have failed to see the implications of a reception of this character. A clearer affirmation of title on the French Indo-Chinese side can scarcely be imagined. It demanded a reaction. Thailand did nothing. Furthermore, when Prince Damrong on his return to Bangkok sent the French Resident some photographs of the occasion, he used language which seems to admit that France, through her Resident, had acted as the host country. The explanations regarding Prince Damrong's visit given on behalf of Thailand have not been found convincing by the Court. Looking at the incident as a whole, it appears to have amounted to a tacit recognition by Siam of the sovereignty of Cambodia (under French Protectorate) over Preah Vihear, through a failure to react in any way, on an occasion that called for a reaction in order to affirm or preserve title in the face of an obvious rival claim.)

· Về việc Thái Lan đã chiếm đóng hay quản lý Preah Vihear, Tòa cho là những hành động này thường là do chính quyền địa phương, và không đủ để triệt tiêu (cancel out) lối hành xử im lặng của chính quyền trung ương.

· Năm 1949, Pháp viết thư cho Thái Lan yêu cầu rút lính gác Thái khỏi đền, nhưng Thái Lan không trả lời.

· Năm 1954 Cambodia (mới độc lập) gửi một lá thư tương tự, nhưng Thái Lan không trả lời.

Vì những lý do trên Tòa phán quyết với đa số 9/3 rằng chủ quyền Preah Vihear thuộc về Cambodia.

Nhận xét về phán quyết Preah Vihear

· Thái Lan và Pháp (đại diện Cambodia) đã ký hiệp ước biên giới ghi rõ là đường biên giới đi theo đường phân thủy, và theo điều khoản đó thì Preah Vihear phải thuộc về Thái Lan.

· Thái Lan không hề ký một hiệp ước hay có một tuyên bố đơn phương nào từ bỏ chủ quyền Preah Vihear.

· Tuy nhiên, dùng nguyên tắc acquiescence (đồng ý ngầm), Tòa đã cho rằng Thái Lan không có chủ quyền vì đã nhiều lần không phản ứng trước những hành động hay tài liệu có thể hiểu là khẳng định chủ quyền của Pháp hay Cambodia.

· Tòa cho rằng hành động chiếm đóng hay quản lý của Thái Lan không đủ để triệt tiêu thái độ im lặng, ngầm đồng ý của nước này khi cần phải có phản ứng.

KẾT LUẬN

    Về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, Tòa Án Quốc Tế dựa vào nội dung và ý định trong các văn kiện, cũng như vào các hành động và sự kiện, hơn là vào hình thức văn kiện.
    “Ý định” phải hiểu là ý định diễn tả trong văn kiện, chứ không phải ý định ngầm của kẻ muốn giấu giếm hay ngần ngại thổ lộ ý định thật như có người đã giải thích.
    Những nguyên tắc “chỉ đọc trong bốn góc của văn bản”, “phải hiểu cách nào ít hại nhất cho người viết” không thể đánh bại một cách hiểu hợp lý (xem cách Tòa diễn giải lá thư của Johor trong vụ Pedra Branca).
    Chỉ một lời nói (có biên bản) của một đại diện có thẩm quyền (như ngoại trưởng) cũng có thể ràng buộc một quốc gia về vấn đề chủ quyền (xem vụ Đông Greenland).
    Acquiescence - đồng ý ngầm, không nói gì khi cần thiết phải nói, tức là khi nước khác khẳng định chủ quyền trên đất của mình hay đất có tranh chấp bằng văn kiện hay hành động - cũng có tác dụng như là lời nói hay văn kiện. Điều này được thấy rõ trong vụ án đền Preah Vihear, khi Thái Lan thua kiện dù không hề có tuyên bố gì từ bỏ chủ quyền.
    Thư Phạm Văn Đồng không phản đối khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa - Trường Sa, nên có thể bị coi là acquiescence.
    Hơn thế nữa, thư Phạm Văn Đồng có thể coi là đã tán thành rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.
    Thư Phạm Văn Đồng không thể coi là một hiệp ước hay văn kiện chính thức nhường chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa cho Trung Quốc. Do đó, dùng những công ước về hiệp ước quốc tế để tìm hiểu tác dụng thư này chưa chắc sẽ đưa đến những kết luận chính xác.
    Thư Phạm Văn Đồng có lẽ không đủ để gây ra estoppel khiến Việt Nam không có quyền tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa.
    Tuy nhiên, nếu thư Phạm Văn Đồng là một yếu tố khiến Trung Quốc giúp Việt Nam dân chủ cộng hòa trong chiến tranh Việt Mỹ, gây tổn thương cho binh lính hay nhân viên Trung Quốc trong cuộc chiến đó, thì có thể estoppel sẽ được áp dụng [9]. (Điều tai hại là chính người Việt cũng có khi đưa ra lý lẽ này để giải thích thư Phạm Văn Đồng!)
    Tuy nhiên, tập trung vào khía cạnh estoppel của thư Phạm Văn Đồng là một việc sai lầm. Nguy hiểm chính của nó không ở chỗ đó.
    Kết hợp thư Phạm Văn Đồng với các hành động và thái độ khác của Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời gian 1954-75, nhất là sự im lặng trong trận chiến Hoàng Sa 1974, nếu đem xử về chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa ở Tòa án Quốc tế sẽ có khả năng không nhỏ là tòa sẽ xử rằng từ 1954 tới 1975 Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chấp nhận chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa thuộc về Trung Quốc.
    Ngay cả khi Tòa cho rằng thư Phạm Văn Đồng không có ý định nói gì về chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa, kết luận 12 ở trên vẫn chính xác (vì lý do đã nói ở kết luận 5).
    Nếu đem xử về chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa ở Tòa án Quốc tế mà đứng trên quan điểm Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn toàn là kế tục (continuation, successor) của Việt Nam dân chủ cộng hòa và không kế tục quốc gia nào khác, thì có khả năng không nhỏ là Việt Nam thua kiện và mất hẳn chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa.

CHÚ THÍCH VÀ TÀI LIỆU

[1] Ngay sau khi lá thư của Thủ tướng Việt Nam dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng được gửi đi, báo Nhân dân gọi nó là “công hàm”. Từ này sau đó được dùng rộng rãi. Gần đây truyền thông trong nước thường gọi nó là công thư. Các nhà nghiên cứu và truyền thông ngoại quốc thường chỉ gọi là “Phạm Văn Đồng letter”, cũng đôi khi gọi là diplomatic note. Trong cộng đồng Việt Nam, cách gọi lá thư gần đây đã gây nhiều tranh cãi, nhiều người cho rằng không gọi nó là công hàm tức là cố ý giảm thiểu tầm quan trọng hay chính thức của nó. Bài này sẽ theo tập tục ngoại quốc và gọi là “thư Phạm Văn Đồng”. Như bài này sẽ cho thấy, dù gọi nó là gì thì giá trị pháp lý của nó cũng không thay đổi.

[2] www.state.gov/documents/organization/58832.pdf

[3] Nguyen Le Ha, Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa,

http://boxitvn.blogspot.fr/2014/07/gia-tri-phap-ly-cong-ham-pham-van-ong.html

[4] Cao Huy Thuần, Công hàm Phạm Văn Đồng - Góp ý về việc giải thích. http://www.diendan.org/viet-nam/gop-y-ve-viec-giai-thich-cong-ham-pham-van-dong.

[5] V. Lowe, International Law, OUP, 2007 pp. 116-117

[6] International Court Of Justice (2008) Case Concerning Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore), Judgment of 23 May 2008. http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14492.pdf

[7] Y. Tanaka (2008) Passing of Sovereignty: the Malaysia/Singapore Territorial Dispute before the ICJ. http://www.haguejusticeportal.net/index.php?id=9665

[8] Việc Tòa không chấp nhận ba thỉnh cầu của Singapore coi đáp thư là văn kiện chính thức từ bỏ chủ quyền, là ràng buộc hay gây estoppel có thể hơi khó hiểu nên cần biết chính xác là câu hỏi trong lá thư của Anh nói gì. Nguyên văn câu hỏi như sau: “It is [now] desired to clarify the status of Pedra Branca. I would therefore be most grateful to know whether there is any document showing a lease or grant of the rock or whether it has been ceded by the Government of the State of Johore or in any other way disposed of.” Câu hỏi đó không nói rằng Anh có hay đòi chủ quyền Pedra Branca, mà chỉ hỏi là Johor có còn giữ chủ quyền hay không, và do đó Tòa đã đi tới những kết luận như trên.

[9] Trong luật quốc tế, estoppel là sự ngăn cấm một nước (A) không được có những hành động mâu thuẫn gây hại cho nước (B) khác, cụ thể là không thể làm ngược những gì mình đã nói. Estoppel đòi hỏi ba yếu tố: thứ nhất, lời tuyên bố của A phải rõ ràng, không thể hiểu lầm; thứ hai, lời tuyên bố phải tự nguyện, vô điều kiện, và bởi người có thẩm quyền; và cuối cùng, B phải làm gì thiệt cho mình hoặc lợi cho A vì đã thực lòng tin vào lời tuyên bố của A. (First, the statement creating the estoppel must be clear and unambiguous; second, the statement must be voluntary, unconditional, and authorized; and finally, there must be good faith reliance upon the representation of one party by the other party either to the detriment of the relying party or to the advantage of the party making the representation.) (M.L. Wagner (1986) Jurisdiction by Estoppel in the International Court of Justice. California Law Review Volume 74, 1777-1804.)

[10] Permanent Court of International Justice (1933) Legal Status of Eastern Greenland - Denmark v. Norway, Judgment. http://www.worldcourts.com/pcij/eng/decisions/1933.04.05_greenland.htm

[11] International Court Of Justice (1962) Case concerning the temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), http://www.icj-cij.org/docket/files/45/4871.pdf.

[12] Article ler: La frontière entre le Siam et le Cambodge part, sur la rive gauche du Grand Lac, de l'embouchure de la rivière Stung Roluos, elle suit le parallèle de ce point dans la direction de l'est jusqu'à la rencontre de la riière Prék Kompong Tiam, puis, remontant vers le nord, elle se confond avec le méridien de ce point de rencontre jusqu'à la chaîne de montagnes Pnom Dang Rek. De là elle suit la ligne de partage des eaux entre les bassins du Nam Sen et du Mékong, d'une part, et du Nam Moun, d'autre part, et rejoint la chaîne Pnom Paclang dont elle suit la crête vers l'est jusqu'au Mékong. En amont de ce point, le Mékong reste la frontière du royaume de Siam, conformément à l'article ler du traité du 3 octobre 1893. (theo [10], trang 14)

Phạm Quang Tuấn
Theo boxitvn

Đỗ Thị Minh Hạnh: Không cho phép mình được nghỉ ngơi

Đăng bởi Anh vào Thứ Năm

Đỗ Thị Minh Hạnh - ...Tuy mới ra tù được ít hôm, tôi được biết thêm là Tổ Quốc Việt Nam đang lâm nguy, Trung Quốc đã lộ quá rõ dã tâm thôn tính Việt Nam. Từ người công nhân lao động cho đến các bậc trí thức, các doanh nhân, kể cả những đảng viên cộng sản... đang đứng trước nguy cơ mất nước, Dân tộc chúng ta đứng trước họa trở thành nô lệ của giặc Tàu.



Tôi quá đỗi đau lòng và khát khao mong được góp một chút tinh thần nhỏ bé để đứng chung cùng quý ông bà, quý cô bác và các anh chị em đấu tranh giữ gìn từng tấc đất của quê hương mình...
*

Kính gửi:

- Các vị dân biểu, đại diện các cơ quan ngoại giao và chính phủ các nước yêu chuộng tự do nhân quyền
- Các cơ quan truyền thông, các tổ chức, cá nhân ở trong lẫn ngoài ngước
Kính thưa quý ông bà, cô bác, anh chị và quý bạn bè gần xa,

Tôi là Đỗ Thị Minh Hạnh, người vừa ra tù trước thời hạn hồi cuối tháng 6 vừa qua. Sau hơn 4 năm 4 tháng bị giam cầm, tôi luôn cảm thấy hạnh phúc vì đã nhận được rất nhiều sự yêu thương và ủng hộ của quý vị.

So với những người bạn thân thiết như các bạn Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, cô Mai Thị Dung và hàng trăm tù nhân lương tâm khác tại Việt Nam, tôi luôn cảm thấy mình thật may mắn. Chính vì điều này mà tôi chưa bao giờ cho phép bản thân mình được nghỉ ngơi.

Qua bức thư này, tôi xin được gửi lời cám ơn chân thành từ trái tim đến tất cả các cá nhân và tổ chức đã luôn đồng hành cùng gia đình tôi trong nỗ lực đấu tranh đòi trả tự do cho tất các tù nhân lương tâm tại Việt Nam, và nhờ quý vị mà tôi được rời khỏi nhà tù sớm hơn hạn định.

Trong thời gian ở tù, dù phải chịu cảnh bị đánh đập, bị làm nhục, bị biệt giam..., tôi vẫn luôn tin tưởng và khẳng định rằng tôi không có tội. Tương tự, các bạn Hùng, Chương và hàng trăm tù nhân lương tâm khác cũng hoàn toàn vô tội.

Tôi luôn xác quyết niềm tin và hành động của mình là vì công nhân, vì người nghèo, vì đất nước, vì tương lai Dân Tộc, vì lãnh thổ quê hương.

Sự ủng hộ của những người yêu nước khắp nơi - cả trong lẫn ngoài nước đã trở thành ngọn lửa giúp tôi có thêm nghị lực vượt qua mọi thử thách vô cùng khắc nghiệt trong nhà tù.

Tuy mới ra tù được ít hôm, tôi được biết thêm là Tổ Quốc Việt Nam đang lâm nguy, Trung Quốc đã lộ quá rõ dã tâm thôn tính Việt Nam. Từ người công nhân lao động cho đến các bậc trí thức, các doanh nhân, kể cả những đảng viên cộng sản... đang đứng trước nguy cơ mất nước, Dân tộc chúng ta đứng trước họa trở thành nô lệ của giặc Tàu.

Tôi quá đỗi đau lòng và khát khao mong được góp một chút tinh thần nhỏ bé để đứng chung cùng quý ông bà, quý cô bác và các anh chị em đấu tranh giữ gìn từng tấc đất của quê hương mình.

Đồng thời, tôi vẫn mong muốn được tiếp tục đóng góp sức lực nhỏ bé của mình để cùng quý vị tranh đấu đòi trả tự do tất cả các tù nhân lương tâm còn đang bị giam giữ như: Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, nhà báoTạ Phong Tần, Luật sư Lê Quốc Quân, tín đồ PGHH Mai Thị Dung, tín đồ PGHH Nguyễn Văn Lía, cô Bùi Thị Minh Hằng, doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức, Nhà báo Nguyễn Xuân Nghĩa, nhạc sĩ Việt Khang, nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình, cô Hồ Thị Bích Khương, chị Lê Thị Phương Anh, cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, chú Nguyễn Văn Minh v.v,...

Cũng qua bức thư này, tôi tha thiết kêu gọi dư luận cùng lên tiếng yêu cầu chính phủ Việt Nam cần phải trả tự do ngay lập tức cho chị Mai Thị Dung. Hiện nay, bệnh tình chị Dung đang hết sức nguy kịch, phải chịu đựng sự đau đớn của thể xác từng giây, từng phút và cần mau chóng được tự do để điều trị kịp thời.

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn và gửi lời tri ân đến tất cả quý vị đã luôn hỗ trợ cuộc đấu tranh đòi tự do, nhân quyền cho Việt Nam.

Kính thư,
Đỗ Thị Minh Hạnh

Theo Dân Làm Báo
 
Copyright © 2009. ↑ Khối 8406 Việt Nam - All Rights Reserved
Hội Huynh Đệ Người Việt