Khối 8406 Việt Nam
Khối 8406 Việt Nam
Tin Nổi Bật
print this page
Bài Mới

Đỗ Thị Minh Hạnh: Không cho phép mình được nghỉ ngơi

Đăng bởi Anh vào Thứ Năm

Đỗ Thị Minh Hạnh - ...Tuy mới ra tù được ít hôm, tôi được biết thêm là Tổ Quốc Việt Nam đang lâm nguy, Trung Quốc đã lộ quá rõ dã tâm thôn tính Việt Nam. Từ người công nhân lao động cho đến các bậc trí thức, các doanh nhân, kể cả những đảng viên cộng sản... đang đứng trước nguy cơ mất nước, Dân tộc chúng ta đứng trước họa trở thành nô lệ của giặc Tàu.



Tôi quá đỗi đau lòng và khát khao mong được góp một chút tinh thần nhỏ bé để đứng chung cùng quý ông bà, quý cô bác và các anh chị em đấu tranh giữ gìn từng tấc đất của quê hương mình...
*

Kính gửi:

- Các vị dân biểu, đại diện các cơ quan ngoại giao và chính phủ các nước yêu chuộng tự do nhân quyền
- Các cơ quan truyền thông, các tổ chức, cá nhân ở trong lẫn ngoài ngước
Kính thưa quý ông bà, cô bác, anh chị và quý bạn bè gần xa,

Tôi là Đỗ Thị Minh Hạnh, người vừa ra tù trước thời hạn hồi cuối tháng 6 vừa qua. Sau hơn 4 năm 4 tháng bị giam cầm, tôi luôn cảm thấy hạnh phúc vì đã nhận được rất nhiều sự yêu thương và ủng hộ của quý vị.

So với những người bạn thân thiết như các bạn Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, cô Mai Thị Dung và hàng trăm tù nhân lương tâm khác tại Việt Nam, tôi luôn cảm thấy mình thật may mắn. Chính vì điều này mà tôi chưa bao giờ cho phép bản thân mình được nghỉ ngơi.

Qua bức thư này, tôi xin được gửi lời cám ơn chân thành từ trái tim đến tất cả các cá nhân và tổ chức đã luôn đồng hành cùng gia đình tôi trong nỗ lực đấu tranh đòi trả tự do cho tất các tù nhân lương tâm tại Việt Nam, và nhờ quý vị mà tôi được rời khỏi nhà tù sớm hơn hạn định.

Trong thời gian ở tù, dù phải chịu cảnh bị đánh đập, bị làm nhục, bị biệt giam..., tôi vẫn luôn tin tưởng và khẳng định rằng tôi không có tội. Tương tự, các bạn Hùng, Chương và hàng trăm tù nhân lương tâm khác cũng hoàn toàn vô tội.

Tôi luôn xác quyết niềm tin và hành động của mình là vì công nhân, vì người nghèo, vì đất nước, vì tương lai Dân Tộc, vì lãnh thổ quê hương.

Sự ủng hộ của những người yêu nước khắp nơi - cả trong lẫn ngoài nước đã trở thành ngọn lửa giúp tôi có thêm nghị lực vượt qua mọi thử thách vô cùng khắc nghiệt trong nhà tù.

Tuy mới ra tù được ít hôm, tôi được biết thêm là Tổ Quốc Việt Nam đang lâm nguy, Trung Quốc đã lộ quá rõ dã tâm thôn tính Việt Nam. Từ người công nhân lao động cho đến các bậc trí thức, các doanh nhân, kể cả những đảng viên cộng sản... đang đứng trước nguy cơ mất nước, Dân tộc chúng ta đứng trước họa trở thành nô lệ của giặc Tàu.

Tôi quá đỗi đau lòng và khát khao mong được góp một chút tinh thần nhỏ bé để đứng chung cùng quý ông bà, quý cô bác và các anh chị em đấu tranh giữ gìn từng tấc đất của quê hương mình.

Đồng thời, tôi vẫn mong muốn được tiếp tục đóng góp sức lực nhỏ bé của mình để cùng quý vị tranh đấu đòi trả tự do tất cả các tù nhân lương tâm còn đang bị giam giữ như: Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, nhà báoTạ Phong Tần, Luật sư Lê Quốc Quân, tín đồ PGHH Mai Thị Dung, tín đồ PGHH Nguyễn Văn Lía, cô Bùi Thị Minh Hằng, doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức, Nhà báo Nguyễn Xuân Nghĩa, nhạc sĩ Việt Khang, nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình, cô Hồ Thị Bích Khương, chị Lê Thị Phương Anh, cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, chú Nguyễn Văn Minh v.v,...

Cũng qua bức thư này, tôi tha thiết kêu gọi dư luận cùng lên tiếng yêu cầu chính phủ Việt Nam cần phải trả tự do ngay lập tức cho chị Mai Thị Dung. Hiện nay, bệnh tình chị Dung đang hết sức nguy kịch, phải chịu đựng sự đau đớn của thể xác từng giây, từng phút và cần mau chóng được tự do để điều trị kịp thời.

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn và gửi lời tri ân đến tất cả quý vị đã luôn hỗ trợ cuộc đấu tranh đòi tự do, nhân quyền cho Việt Nam.

Kính thư,
Đỗ Thị Minh Hạnh

Theo Dân Làm Báo

TẬP CẬN BÌNH SẼ ĐƯA CHINA VỀ ĐÂU?


Hoàng Mai

Khác với các nước phi cộng sản, có nền dân chủ đa đảng, cuộc bầu chọn lãnh đạo đất nước thường minh bạch, là sự cạnh tranh không chỉ trong nội bộ mỗi đảng, mà còn là sự cạnh tranh giữa các chính đảng cũng như các cá nhân độc lập tham gia ứng cử, và được nhân dân bầu cử một cách minh bạch… Thì các đảng cộng sản, khi cần người đứng đầu của đảng, thường là do vài cá nhân có vai vế chỉ định, và người được chỉ định thuộc loại “con ông cháu cha”, và Tập Cận Bình ở China cũng thuộc số này. Dân China gọi là tầng lớp “thái tử đảng”.
Ngày 15 tháng 11 năm 2012, tại Đại hội lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản China, đã bầu Tập Cận Bình làm Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản China, Chủ tịch Quân ủy Trung ương China.

Ngày 14 tháng 3 năm 2013, Tập Cận Bình được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân China, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực ở China.

Theo dõi quá trình lãnh đạo của Tập Cận Bình trong gần hai năm qua, ta thấy:

- Đây là con người có tham vọng chính trị rất lớn, khẩu hiệu của ông ta ngay sau khi được bầu là TBT là “phục hưng Trung Hoa”, hay “giấc mơ Trung Hoa”. Có thể đoán, Tập muốn để lại dấu ấn cá nhân trong lịch sử China chỉ sau Mao Trạch Đông, hoặc chí ít cũng ngang với Đặng Tiểu Bình – người khởi xướng đổi mới từ năm 1978 và đưa China thành công về kinh tế như ngày nay.

- Tập đang thực hiện chiến dịch chống tham nhũng với khẩu hiệu “đập ruồi đả hổ” (dư luận China cũng cho rằng đây là sự đấu đá nội bộ trong Đảng cộng sản China, vốn có truyền thống và rất khốc liệt, thậm chí đẫm máu như dưới thời Mao), mà ngay cả các Ủy viên Bộ Chính trị cũng là đối tượng bị tống giam, chưa kể đến hàng loạt tướng tá trong quân đội, cũng như các ủy viên trung ương khác. Chỉ riêng việc này thôi, cũng cho thấy, Tập là người “dám nghĩ, dám làm”, và không phải ai cũng dám làm như ông ta. Rõ ràng đây là con người có tố chất mạnh mẽ, tự tin…

- Tự tin vào sức mạnh kinh tế của mình, China dưới sự lãnh đạo của Tập, còn muốn Mỹ “chia đôi Thái Bình Dương”, muốn rằng Mỹ nhượng lại China phần phía Tây Thái Bình Dương, tính từ Quần đảo Hawaii thuộc Mỹ. Trong chuyến thăm Mỹ hồi tháng 6/2013, tại cuộc tiếp kiến với Tổng thống Barak Obama, Tập nói: “Thái Bình Dương đủ rộng cho cả Mỹ và Trung Quốc”. Như vậy, “đường lưỡi bò” ở Biển Đông Việt Nam, mới chỉ là “cái ao nhà” trong tham vọng của China mà thôi.

Tập Cận Bình sẽ đưa China theo hướng nào, về đâu?

Từ một vài nhận định nổi bật trên đây về Tập Cận Bình, và nhìn tổng thể hiện trạng đất nước China hôm nay, có thể dự đoán:

1. Biết được sự diệt vong tất yếu của hệ thống quyền lực cộng sản, cho nên đã từ lâu, giới cầm quyền Bắc Kinh đang đi tìm một mô hình nhà nước kiểu mới.

Rõ ràng, mô hình nhà nước dân chủ theo châu Âu và Mỹ là điều Bắc Kinh không bao giờ mong muốn, thậm chí là sợ hãi, vì theo thể chế này, rất có thể đến một lúc nào đó sẽ có trưng cầu dân ý theo nguyện vọng đòi độc lập của các lãnh thổ bị chiếm đóng như Tân Cương, Tây Tạng, và cả là Đài Loan…

China hiện đang rất lưỡng nan về vấn đề này. Duy trì sự độc tài sẽ kìm hãm phát triển, và không sớm thì muộn cũng đi đến sụp đổ. Ngược lại, theo hướng dân chủ đa đảng thì China có thể phân rã thành nhiều nước như đã nói trên.

Như vậy, có thể nói, mâu thuẫn cơ bản hiện nay của China đó là tìm một mô hình phát triển, vừa để duy trì tăng trưởng, ổn định đất nước, đồng thời tránh được sự phân rã nhà nước China thành nhiều nước nhỏ trong tương lai.

2. Rất có thể cuộc chống tham nhũng với khẩu hiệu “đập ruồi đả hổ” của Tập sẽ đi theo một hướng khác ngoài sự kiểm soát của Tập và các tay chân của ông ta. Trong thể chế độc quyền cộng sản, tham ô là do “Lỗi hệ thống” tạo nên, cá nhân có quyền lực và tham nhũng thực ra là những tên mafia có hạng. Không dễ gì bọn này khoanh tay để rồi lần lượt bị Tập cho vào tù. Chỉ cần một nhóm tướng lĩnh trong quân đội ra tay chống đối Tập, thì chính trường China sẽ đi theo một hướng khác. Hơn ai hết, người Tàu và người Á Đông rất hiểu thành ngữ “người tính không bằng trời tính”.

3. Do muốn khẳng định vai trò cá nhân trong lịch sử hiện đại China, cũng như tránh cho Đảng cộng sản trên đà sụp đổ, sự hiếu chiến của Bắc Kinh ở Biển Đông Việt Nam trong những năm qua, đang đưa China bị cô lập trên chính trường Quốc tế. Nếu như lãnh đạo Việt Nam run sợ trước Bắc Kinh, thì ngược lại, Mỹ, Nhật đủ sức mạnh để khuất phục China. Mặt khác, chính trường Việt Nam cũng rất khó lường. Chỉ cần một biến cố ở Việt Nam và Việt Nam không còn đi theo quỹ đạo của Bắc Kinh, khi đó Liên minh quân sự Việt – Nhật – Mỹ được hình thành, thì đây sẽ là tai họa đối với China. Hiểu được điều này, cho nên, hiện tại Bắc Kinh không tiếc tiền đổ vào Việt Nam (thông qua đầu tư, viện trợ…) nhằm duy trì chế độ tuân phục hiện nay ở Việt Nam.

4. China hiện đang rất sợ chiến tranh, đặc biệt là với Mỹ, Nhật. Chính vì vậy, hôm 9-7, mở đầu cuộc Đối thoại về Chiến lược và Kinh tế (S&ED) thường niên giữa China và Mỹ, Tập Cận Bình nói: “Nếu Trung Quốc và Mỹ đối đầu, đó sẽ là một thảm họa. Chúng ta phải tôn trọng lẫn nhau, đối xử với nhau bình đẳng và tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lựa chọn của các bên trên con đường phát triển”.

Sự thất bại của phe Trục trong Chiến tranh thế giới thứ 2, buộc Nhật Bản phải trao trả các lãnh thổ và đảo ngoài khơi cho các nước mà Nhật đã xâm chiếm; đây là bài học mà Bắc Kinh nằm lòng để không phải trả Hoàng Sa cho Việt Nam nếu như gây chiến tranh và bị đánh bại trong chiến tranh đó. Nếu người Việt vẫn nặng lòng với Hoàng Sa, thì đây cũng sẽ là một cơ hội để lấy lại Hoàng Sa, một khi China thất bại trong các cuộc chiến về sau này.

Không loại trừ khả năng sẽ có xung đột nhỏ ở Biển Đông Việt Nam, và vượt quá tầm kiểm soát để rồi đi đến một cuộc chiến cấp khu vực và buộc Nhật, Mỹ phải tham gia, và kết quả sẽ dành cho China như dự báo trên đây.

5. Sự hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông Việt Nam, thực ra phần nào đang che dấu sự bế tắc của Tập ở cả phương diện đối nội và đối ngoại.

Thật vậy, những mâu thuẫn xã hội trong lòng China (kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, đói nghèo…), cũng như sự phản kháng của người Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, Tây Tạng… đang là một nguy cơ lớn để China bất ổn.

Sự cứng rắn của Thượng viện Mỹ, với việc thông qua nghị quyết 412 hôm 10.7.2014, với số phiếu tuyệt đối “Yêu cầu China rút giàn khoan HD 981, giữ nguyên hiện trạng và không được cản trở lưu thông hàng hải”, như là một lời cảnh báo đối với tham vọng của Tập Cận Bình, không chỉ ở Biển Đông Việt Nam, mà làm cho Tập mất uy tín ngay cả trong nước và Quốc tế.

Tập Cận Bình sẽ là người đưa China cộng sản đến tan rã và đó là kết cục có hậu đối với thế giới.

16.7.2014
H.M.
Tác giả gửi BVN

Thoát Trung?

Nam Dao

Thoát Trung là thuật ngữ nay khá phổ biến trong dư luận. Vấn nạn bành trướng phương Bắc thêm một lần trở thành chuyện mất còn một dân tộc sống kề cạnh một láng giềng rêu rao 16 chữ vàng với 4 tốt, nhưng đơn phương cài cắm giàn khoan HD 981, xâm lăng lãnh hải của Việt Nam. Văn Việt, website của Ban Vận Động Văn Đoàn Độc Lập, đề xướng một cuộc thảo luận về Thoát Trung trên bình diện văn hóa (http://vanviet.info/category/thao-luan/). Nhưng văn hóa là thế nào đây? Có phải ta phủ nhận Sở Từ, Đường Thi, Tống Từ…? Chắc chắn là không. Những thành tựu văn hóa trở thành của chung nhân loại.

Thế thì, thoát Trung về văn hoá là thế nào? Trả lời phần nào câu hỏi vừa đặt, xin đưa ra một tiền đề: văn hoá là nền tảng trầm tích của mọi tổ chức xã hội. Tổ chức đó xây dựng trên cơ sở phân bổ những quyền lực của cộng đồng, tức quyền lực chính trị. Những quyền lực ở Trung Quốc đó từ hàng ngàn năm nay là gì? Trước tác của những vị như cố GS Trần Đình Hượu, GS Trần Ngọc Vương… cho rằng xã hội Trung Quốc xưa nay đóng băng trong một hệ hình gọi là hệ hình ‘’hoàng đế’’. Phải chăng Thoát Trung về văn hóa là thoát cái hệ hình đó? Đây là điểm chúng tôi xin được lý giải.

Từ thời Tần, Hán, rồi Đường, Tống, Minh, Thanh… văn hoá chính trị-xã hội ở Trung Quốc dựa trên ý thức hệ Khổng-Mạnh. Sau những thế kỷ loạn lạc nào Xuân Thu nào Chiến Quốc, Khổng phu tử truyền bá phương thức ổn định xã hội bằng cách rao giảng vai trò chuyên chế của Vua, thứ tự lớp lang trong xã hội (sĩ, nông, công, thương), hành xử phải ‘’đạo’’ cho mỗi cá nhân kiểu trai thì trung hiếu làm đầu… Đến từ Thiên mệnh, Hoàng Đế có quyền uy tối thượng, sở hữu tất cả, và điều hành xã hội trên mọi phương diện với một guồng máy quan liêu mà nền tảng là lớp Sĩ, thấm nhuần hai chữ Trung Quân, đặt Vua lên trên cả Thày và Cha mình. Người dân, ở mọi tầng lớp, không có một vai trò gì trong tổ chức và vận hành xã hội cứ thế hàng ngàn năm, mang thuộc tính một đàn cừu chỉ lẻ tẻ nổi loạn khi đói ăn và khi bị đám quan lại áp bức. Cá nhân con người bị triệt tiêu, an phận thành cách hành xử của loài vong nô bất lực, và chính thế mà xã hội Trung Quốc dậm chân tại chỗ, bị bỏ tuột đàng sau một châu Âu năng động sau thời Phục Hưng.

Vào đầu thế kỷ 20, Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu và Tôn Dật Tiênđả phá hệ hình ‘’Hoàng Đế’’, du nhập những thành quả triết học chính trị của thời Khai Sáng ở Âu Châu vào mong làm tan lớp băng phong kiến ngàn năm đóng cứng xã hội Trung Quốc. Nhưng chưa đâu vào đâu thì đất nổi ba đào. Những diễn biến từ thế chiến 2 đưa đến triều đại Mao Trạch Đông, kẻ đã xích hóa Trung Quốc dưới danh nghĩa giải phóng. Nhưng oái oăm thay, chính Mao là người tái thiết hệ hình ‘’Hoàng Đế’’ ở Trung Quốc, dĩ nhiên với Mao là chủ tể. Quần thần kiểu mới là thành viên Bộ Chính Trị, rồi Trung Ương Đảng… đúng kiểu cách Lêninnít, nhưng nay mang mùi vị tầu vị yểu trộn với tương ớt đỏ. Tiếng là tuân thủ ý thức hệ Mác-Lênin, Hoàng Đế họ Mao thực ra dựng lại một Trung Quốc phong kiến mang tham vọng bá quyền. Mao vẫy Sách Đỏ, ra lệnh cho cả nước Tàu mang nồi niêu xoong chảo ra thiêu chảy để xây dựng một nền công nghệ luyện kim tiên tiến (!) Rồi Cải Cách Ruộng Đất, đánh Tư Sản, chế độ Lao Cải, Lý Lịch… Tức là tất cả những gì Việt Nam ta đều làm theo, chậm mất đâu 5, 10 năm.

Chế độ hậu Mao tương quan thế nào với hệ hình ‘’Hoàng Đế’’? Đặng Tiểu Bình không phân biệt mèo trắng mèo đen, thả cho bắt chuột, và mèo Trung Quốc hàng đàn sổng ra leo lên ngồi trên những chạc cây của một chế độ tư bản rừng rú. Nhưng chẳng phải mèo nào cũng thành Vua thành quan. Vua quan Trung Quốc bây giờ là Vua Tập Thể, tức đám ủy viên Bộ Chính Trị, cũng cha truyền con nối với cái nhân dân gọi là Đảng Thái Tử. Phân bổ quyền lực hiện đại là phân bổ ngành trong Kinh Tế-Tài Chánh, Quân Đội, Công An, và phân bố lãnh chúa địa phương. Phe nhóm chồng chéo không ít, nhưng dẫu gì thì phải làm thế nào giữ được Đảng Cộng Sản Trung Quốc, cơ cấu chủ chốt để găm chặt quyền lực. Trong bối cảnh này, những vấn đề dân sinh ở Trung Quốc vẫn đầy rẫy. Nếu GDP/đầu người vào khoảng 7,8 ngàn USD thì có gần 14% sống với khoảng 300 USD/năm, và cỡ 72% dân số mà thu nhập chỉ trên dưới 600 USD/năm. Bất bình quân về phân bố lợi tức nặng nhẹ theo vùng, và nhất là theo yếu tố thành thị/nông thôn. Đất nông nghiệp bị trưng thu với giá bèo, nông dân hàng 2,3 trăm triệu người bỏ lên thành phố làm công ở mức lương bóc lột. Môi sinh bị hủy hoại, nước ô nhiễm, không khí ô nhiễm, thực phẩm độc hại, và dân số thì nay coi như không còn kiểm soát với chế độ một con như trước. Hiện thực tuy khá thê thảm, nhưng bộ máy tuyên truyền vẫn ra rả những xã hội chủ nghĩa với sắc thái Trung Quốc ổn định hài hòa. Và nhìn lại Việt Nam mà xem: cũng hệt vậy, nhưng Việt Nam ở một mức độ thấp hơn, tầm vóc khiêm nhường của kẻ theo đuôi, lắt léo rêu rao ‘’kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa’’.

Với chính sách bóc lột lao động nói trên, Trung Quốc xuất khẩu giá rẻ những mặt hàng tiêu dùng sản xuất với công nghệ chế biến và đã tích lũy được một khối lượng dự trữ ngoại tệ khủng (ước tính vào khoảng gần 4000 tỉ USD). Họ dự tính đầu tư vào khâu khai thác tài nguyên ở Phi châu, Úc châu, Châu Mỹ Latinh. Họ ồ ạt đặt mua cổ phần trong những cơ sở kỹ nghệ Âu-Mỹ lỗ lã khó khăn trong cuộc khủng hoảng kinh tế 2008. Tuy nhiên, kế sách thâm nhập và bành trướng kinh tế của Trung Quốc không mấy có kết quả, nhiều quốc gia ‘’thấy sợ’’, và rất thận trọng trước những đề nghị đầu tư của Trung Quốc.

Việt Nam thì sao? Sau bài học còn dở dang qua cuộc chiến họ Đặng định dạy Việt Nam năm 1979, lớp lãnh đạo như Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh thất thần trước sự sụp đổ vô tiền khoáng hậu của thế giới Cộng Sản ở Liên Xô và Đông Âu. Họ vội vã sang Thành Đô năm 1990 thì thụp thế nào mà 16 chữ vàng và 4 tốt thành gông cùm xiềng xích trên phương diện chính trị. Còn về kinh tế, chừng mươi, muời lăm năm nay, Việt Nam đi ngược lại những bước phát triển lẽ ra một quốc gia bình thường phải thực hiện được. Không có công nghệ chế biến và phụ trợ, Việt Nam nhập khẩu nguyên vật liệu từ Trung Quốc để đơn thuần gia công với mức lương công nhân thấp, nhưng xuất sản phẩm Việt Nam tức là làm trung gian xuất nguyên vật liệu Trung Quốc phải nhập. Cán cân thương mại với Trung Quốc hiện nhập siêu trên 25 tỉ USD, nợ chồng chất còn hơn Chúa Chổm, và nhất là ‘’để’’ Trung Quốc trúng thầu đến 90% những công trình kinh tế chiến lược trong khâu Giao Thông, Năng Lượng, vv… Làm được thế, chắc chắn Trung Quốc đã tạo được một lực lượng Nội Xâm Việt Nam. Lực lượng này hẳn là những nhân vật chóp bu ở mọi cấp từ trung ương đến địa phương, và trong mọi ngành nghề ban bệ dễ dàng sai khiến bằng phong bì và quyền lợi phe phái. Hệ hình ‘’Hoàng Đế’’ xuất qua Việt Nam bây giờ được cải biên theo phương thức chia để trị, thành loạn Sứ Quân mọi chốn, kỷ cương nay hẳn được quyền hành Trung Nam Hải trực tiếp chi phối.

Thoát Trung vậy là gì?
  • Là dứt khoát bỏ hẳn trên phương diện văn hóa hệ hình chính trị ‘’Hoàng Đế’’ từ thời Hán Cao Tổ cho đến Mao Trạch Đông và lũ hậu duệ, là thực hiện thể chế cộng hòa dựa trên những giá trị dân chủ và tôn trọng những quyền Tự Nhiên của Con Người.
  • Là chống lại ngoại xâm Bành Trướng phương Bắc, là thiết lập một Diên Hồng thế kỷ 21, vận sức toàn dân chống bọn nội xâm ung nhọt tiếp tay cho ngoại bang đã, đang, và sẽ tiếp tục biến Việt Nam thành quận huyện như hai lần Bắc thuộc trước đây trong lịch sử.
Đây là một cuộc đấu tranh rộng khắp, ở mọi tầng lớp, với mọi xu hướng. Và chỉ có sức dân mới lật được những con thuyền cũ bươm mất chèo lạc lái buộc sẽ rồi phải đào thải. Nhưng muốn thế, điều kiện bây giờ là phải phất được một ngọn cờ đào bảo vệ biên cương lãnh thổ: trên 20 xã hội dân sự hiện hoạt động trong nước là những hạt nhân có khả năng kết nối để cùng nhau đi đến một cương lĩnh và những hành động tập hợp được sức dân.

Viết dòng này, chúng ta vừa bước sang ngày 14 tháng 7. Cách đây 225 năm, dân Pháp cùng khổ phá ngục Bastille, đánh dấu bước ly khai không đảo ngược được với chế độ Phong Kiến. Xin nhắc lời đầu trong Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1945 của Việt Nam: ‘’Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Và cùng nhủ, chúng ta đừng để những kẻ đang nắm quyền bính phản bội lại lời Tuyên Ngôn vừa được nhắc.
N.D.
Tác giả gửi BVN

Carl Thayer: Hai toan tính của Trung Quốc khi dời giàn khoan

Đăng bởi Anh vào Thứ Tư

Chuyên gia hàng đầu về Biển Đông Carl Thayer nhận định việc Trung Quốc dịch chuyển giàn khoan Hải Dương 981 về đảo Hải Nam có hai mục tiêu, gồm ngăn Việt Nam kiện ra tòa quốc tế và ngăn Việt Nam bắt tay với các nước khác.

Việc Trung Quốc điều giàn khoan 981 ra Biển Đông xâm phạm quyền chủ quyền của Việt Nam và gây trở ngại cho tiến trình đàm phán giải quyết tranh chấp. Ảnh: Chinanews.

Trao đổi với VnExpress, Giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia cho rằng việc Trung Quốc tuyên bố đưa giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi Hoàng Sa là vì nước này muốn tránh những rủi ro khi duy trì hơn một trăm tàu thuyền trong lúc cơn bão Rammasun (Thần Sấm) đang đi vào Biển Đông. Khi đưa giàn khoan vào đặt trái phép hồi tháng 5, phía Trung Quốc nói nó sẽ hoạt động đến 15/8.

"Giàn khoan Hải Dương 981 sẽ trở lại Biển Đông sau mùa bão. Câu hỏi chính là họ đặt ở đâu", ông Thayer nhấn mạnh. "Trung Quốc đóng các giàn khoan dầu để tìm dầu khí và sẽ sử dụng nó để khai thác cho nền kinh tế nước này".

Với việc dời giàn khoan, Trung Quốc không cần triển khai các tàu thuyền ở khu vực này nữa. Việt Nam cũng không cần duy trì tàu của Cảnh sát biển và Kiểm ngư. Như vậy là cuộc khủng hoảng hiện nay sẽ chấm dứt, ông Thayer lập luận.

Thayer cho rằng quyết định dịch chuyển giàn khoan của Trung Quốc phản ánh tính toán của Bắc Kinh, đó là hoàn thành các hoạt động của giàn khoan trước mùa bão và không buộc hoạt động của Hải Dương 981 với một cam kết vô hạn. Tuy nhiên giàn khoan này sẽ được tiếp tục sử dụng như một vũ khí của Trung Quốc để "tiếp tục cuộc tấn công về chính trị", ông phân tích.

Theo giáo sư, sau khi giàn khoan dời đi, một lúc nào đó, Trung Quốc và Việt Nam sẽ bắt đầu những thảo luận tìm cách cải thiện quan hệ song phương. Điều này có thể đồng nghĩa với khả năng Việt Nam sẽ kiềm chế không kiện Trung Quốc nữa, và cũng sẽ kiềm chế trong hợp tác với Mỹ và Nhật Bản.

"Tựu chung, động thái dịch chuyển giàn khoan của Trung Quốc sẽ giúp nước này biện hộ rằng tranh chấp ở Biển Đông chỉ liên quan đến hai nước và loại trừ sự tham gia của bất kỳ nước bên ngoài nào", Thayer cho biết.

Hành động của Trung Quốc cũng được lên kế hoạch để chặn trước những nỗ lực của Mỹ và các đồng minh trong việc đưa vấn đề căng thẳng ở Biển Đông ra Diễn đàn An ninh Khu vực ARF tháng tới tại Myanmar.

Đánh giá về dài hạn, ông Thayer cho rằng, Trung Quốc không từ bỏ tham vọng kiểm soát Biển Đông trong phạm vi đường chín đoạn. Bắc Kinh cũng sẽ tiếp tục các hoạt động khai hoang như đang làm ở Trường Sa, và tăng cường áp lực với Philippines.

Trung Quốc có thời gian cho đến nửa đầu năm 2016, khi Tòa án Trọng tài, nơi tiếp nhận vụ kiện của Philippines, dự kiến đưa ra phán quyết. Trung Quốc có mưu toan củng cố sự hiện diện của họ ở Biển Đông nhiều hết mức có thể trước thời điểm đó.

Giàn khoan Hải Dương 981 cùng các tàu hộ tống của Trung Quốc đêm qua bắt đầu di chuyển từ vị trí đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam về phía đảo Hải Nam. Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay ra thông cáo xác nhận việc giàn khoan Hải Dương 981 hoàn tất hoạt động gần quần đảo Hoàng Sa và dịch chuyển về một dự án mới.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình hôm nay yêu cầu Trung Quốc không đưa giàn khoan Hải Dương 981 quay trở lại hoặc đưa bất cứ giàn khoan nào khác vào khu vực thuộc vùng biển của Việt Nam, được quy định bởi Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Ông Bình một lần nữa khẳng định hoạt động của giàn khoan 981 và các tàu hộ tống của Trung Quốc trong hơn hai tháng qua là hoàn toàn bất hợp pháp, vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế.

Ủng hộ của quốc tế cho Việt Nam

Từ khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ đầu tháng 5, nhiều nước đã lên tiếng phản đối hành động của Trung Quốc, ủng hộ lập trường của Việt Nam.

Trong chuyến công du của Thủ tướng Việt Nam tới Manila hồi tháng 5, chính phủ Philippines cho biết kiên quyết phản đối và kêu gọi các nước, cộng đồng quốc tế tiếp tục lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động xâm phạm, triệt để tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, các nguyên tắc của DOC.

Philippines cũng ủng hộ Việt Nam cân nhắc việc kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế vì những hành động xâm phạm chủ quyền.

Trong Diễn đàn an ninh khu vực Shangri-La, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tuyên bố dành sự ủng hộ tối đa cho Đông Nam Á, nơi Việt Nam và một số nước đang có tranh chấp chủ quyền biển với Trung Quốc, nhằm đảm bảo tự do hàng hải và hàng không trong khu vực. Nhật Bản sẽ cấp các tàu tuần tra cho Việt Nam vào đầu năm sau, đồng thời giúp đỡ đào tạo và chia sẻ thông tin với lực lượng cảnh sát biển Việt Nam.

Trong hai tháng qua, nhiều quan chức cấp cao chỉ trích hành động khiêu khích của Trung Quốc đối với Việt Nam gần khu vực đặt giàn khoan trái phép. Hôm 10/7, Thượng viện Mỹ đã thông qua nghị quyết về Biển Đông, yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 và lực lượng hàng hải liên quan khỏi Hoàng Sa. Các nghị sĩ Mỹ cũng đề nghị Trung Quốc kiềm chế các hoạt động hàng hải trái với Quy tắc quốc tế về phòng ngừa đâm va trên biển, và trở về nguyên trạng như trước ngày 1/5.
Việt Anh

Theo VnExpress

Ls. Lê Công Định: Anh Huỳnh Anh Trí nói chính xác về nhà tù cộng sản

VRNs (16.07.2014) – Sài Gòn – “Tôi không có trải nghiệm về điều này vì chưa từng bị cùm trong thời gian ở tù. Tuy nhiên, hầu hết tù nhân mà tôi tiếp xúc khi ở các trại giam khác nhau đều kể với tôi đúng như anh Huỳnh Anh Trí tố cáo, vì họ đã trải qua trường hợp bị cùm do vi phạm kỷ luật của trại giam. Họ rất e ngại các cùm dính máu như vậy, nhưng không ai dám đề nghị thay đổi hay phản đối, vì sợ bị quy chụp là chống đối cán bộ quản giáo và do đó sẽ mất cơ hội được xét giảm án. Thật ra, tình trạng này có thể tránh được vì chỉ cần làm vệ sinh các cùm đó mỗi khi đã sử dụng, song dường như đấy không phải là mối bận tâm của các cán bộ quản giáo”. Luật sư Lê Công Định bình luận về câu chuyện của ông Huỳnh Anh Trí bị nhiễm HIV/AIDS trong trại giam và đã quan đời vào ngày ngày 05.07.2014, tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch – Sài Gòn.

Sau đây xin mời Quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn giữa Pv. VRNs với Luật sư Lê Công Định.

VRNs: Thưa Ls Lê Công Định, trên trang facebook cá nhân của ông, Luật sư đã viết: “Tôi xác nhận có tình trạng sử dụng một dao lam cạo râu và hớt tóc cho rất nhiều tù nhân ở các trại tạm giam và trại cải tạo mà tôi từng trải qua”. Luật sư có thể nói rõ hơn về tình trạng này được không ạ? Và ông nhận định như thế nào về việc làm này?

Ls Lê Công Định: Tôi đọc bài phỏng vấn anh Huỳnh Anh Trí về sự việc đó thấy anh nói chính xác, vì tôi đã chứng kiến tình trạng như vậy trong thời gian ở tù. Nội quy của các trại giam đều cấm sử dụng vật dụng bằng sắt trong buồng giam, đồng thời cũng cấm tù nhân nam để râu và tóc dài. Do vậy, tại các trại giam, quản giáo thường buộc tù nhân cạo râu chung để tiện quản lý, từ đó đưa đến tình trạng nhiều tù nhân phải sử dụng cùng một dao lam do trại cung cấp. Riêng ở khám Chí Hòa, nơi tôi ở trong 2 năm rưỡi, không có tình trạng này, vì dao lam bị cấm tuyệt đối, nên tù nhân phải nhổ râu bằng các dụng cụ tự chế hoặc bằng cách se chỉ, tôi nghe nói rất đau rát.

Tất nhiên, việc cấm sử dụng vật dụng bằng sắt trong buồng giam có lý do chủ yếu là tránh trường hợp tù nhân thanh toán lẫn nhau khi bất hòa, nhưng điều đó không thể biện minh cho việc duy trì tình trạng sử dụng chung một dao lam cho nhiều tù nhân, vốn nguy hiểm vì nguy cơ lây lan cao các bệnh truyền nhiễm qua đường huyết như AIDS. Ai có lương tâm cũng dễ dàng nhận thấy rằng nhiễm bệnh hiểm nghèo nhiều khi nguy hiểm hơn bị thương tích vì bạo hành, và đương nhiên người quản lý có lòng nhân đạo phải ngăn ngừa cả hai mối nguy hại như vậy cho tù nhân. Sở dĩ quản giáo của các trại giam chỉ tập trung ngăn ngừa tù nhân thanh toán lẫn nhau là vì họ không muốn chịu trách nhiệm về tình trạng mất trật tự trong trại giam, còn việc tù nhân nhiễm bệnh hay không thì dường như họ chẳng bận tâm.
140715011

VRNs: Thưa Luật sư, Ông Huỳnh Anh Trí cũng tố cáo về các cùm dơ còn rướm máu thì ông nghĩ như thế nào về điều này? Luật sư có trải nghiệm ra sao về điều này?

Ls Lê Công Định: Tôi không có trải nghiệm về điều này vì chưa từng bị cùm trong thời gian ở tù. Tuy nhiên, hầu hết tù nhân mà tôi tiếp xúc khi ở các trại giam khác nhau đều kể với tôi đúng như anh Huỳnh Anh Trí tố cáo, vì họ đã trải qua trường hợp bị cùm do vi phạm kỷ luật của trại giam. Họ rất e ngại các cùm dính máu như vậy, nhưng không ai dám đề nghị thay đổi hay phản đối, vì sợ bị quy chụp là chống đối cán bộ quản giáo và do đó sẽ mất cơ hội được xét giảm án. Thật ra, tình trạng này có thể tránh được vì chỉ cần làm vệ sinh các cùm đó mỗi khi đã sử dụng, song dường như đấy không phải là mối bận tâm của các cán bộ quản giáo.

VRNs: Thưa Luật sư, ông là đã từng trải qua các nhà tù cs VN thì quan điểm của ông như thế nào về câu chuyện của ông Huỳnh Anh Trí bị nhiễm HIV/AIDS trong trại giam?

Ls Lê Công Định: Thật ra việc anh Huỳnh Anh Trí bị nhiễm HIV/AIDS trong trại giam chưa thể xác quyết về phương diện bằng chứng vì nhiều lẽ, nhất là trong thời gian bị giam cầm anh không được chăm sóc y tế đầy đủ và không được xét nghiệm cần thiết để phát hiện và chữa bệnh. Nên bây giờ người ta có thể nêu nhiều giả thuyết về khả năng nhiễm bệnh để chối phăng đi. Tuy nhiên, theo tôi việc anh Trí bị lây nhiễm trong khi ở tù có thể tin được, nếu xét thời gian phát bệnh, ra tù và qua đời.

Khi ở trong tù tôi cũng e ngại việc lây nhiễm bệnh xảy ra với mình và ngay từ đầu tôi luôn để tâm ngăn ngừa mọi khả năng như thế. Sau khi ra tù, điều đầu tiên tôi làm là kiểm tra sức khỏe và thực hiện mọi xét nghiệm cần thiết tại một bệnh viện tin tưởng. May mà sức khỏe tôi tốt, thậm chí hơn cả thời gian trước khi bị bắt, do tôi ăn uống điều độ, thường xuyên tập luyện thể dục và điều quan trọng là sống ung dung tự tại trong tù.

Nói như vậy không có nghĩa là tôi đã được chăm sóc y tế tốt hay đặc biệt trong tù. Khi bị bệnh tôi cũng chỉ được cấp thuốc như các tù nhân khác, mà thuốc được cấp thì chất lượng không bảo đảm và thường bị thiếu, muốn nhờ gia đình gửi riêng vào thì họ không cho với lý do không rõ nguồn gốc. Chỉ riêng thuốc trị cao huyết áp mà tôi uống hàng ngày gia đình mới được phép gửi, do trại giam không có loại phù hợp với tôi, nhưng việc gửi vào lại rất phiền toái bởi lắm thủ thủ tục này nọ nhằm gây khó khăn. Vì vậy, cách duy nhất bảo vệ mình là tập thể dục và giữ vệ sinh.

VRNs: Để tránh những chuyện đau lòng khác có thể xảy ra, vậy thưa Luật sư, chúng ta nên làm gì để có thể cải thiện chế độ lao tù cũng như chế độ chăm sóc y tế cho các tù nhân, tù thường phạm là những người đang bị đối xử ngược đãi, bị mất nhân quyền và nhân phẩm?

Ls Lê Công Định: Thật khó có thể làm gì để cải thiện chế độ lao tù cũng như chăm sóc y tế cho các tù nhân, đơn giản vì chính quyền kiểm soát việc này mà không ai có quyền góp ý kiến. Chẳng hạn, hồi tôi sống tại trại Chí Hòa, buồng giam tôi ở đặt ngay gần một ống dẫn nước thải hôi thối nồng nặc 24/24 giờ. Có nhiều đêm đang ngon giấc tôi đã phải bật dây vì mùi xú uế độc hại xông thẳng vào mũi khiến mình có cảm giác chết ngạt. Tôi nhiều lần yêu cầu cán bộ quản giáo sửa chữa, thì họ viện lý do cơ sở vật chất đã cũ và xuống cấp nên không thể khắc phục. Mãi đến khoảng hơn 1 tháng trước khi tôi được trả tự do, họ mới cho sửa chữa lấy lệ, nhưng mùi hôi thối thì đâu vẫn hoàn đấy. Trong 2 năm rưỡi hít thở bầu không khí ô nhiễm suốt ngày đêm và gần 4 năm tắm giặt bằng nước giếng không qua xử lý, tôi tự hỏi phải chăng sức chịu đựng bền bỉ đã giúp tôi vượt qua nghịch cảnh ấy? Vậy nhưng lúc nào người ta cũng “leo lẻo” rằng tôi đã được đối xử đặc biệt và nhiều ưu ái.

Ngoài ra, cần phải nói đến việc tù nhân bị chửi mắng và đánh đập. Tất cả các trại giam mà tôi trải qua đều có tình trạng này ở mức độ nghiêm trọng. Có hay không lý do, tù nhân đều có thể bị đánh chửi. Chẳng hạn, tôi từng chứng kiến điều tra viên và cán bộ quản giáo đánh người khi không cung khai đầy đủ hoặc vi phạm kỷ luật. Tù nhân đang thi hành án bị bệnh đề nghị khám sức khỏe có thể bị mắng là kiếm cớ trốn lao động. Ở khám Chí Hòa, việc sỉ nhục tù nhân là “trâu”, “chó” là điều bình thường mà tôi thường xuyên nghe thấy, thậm chí có cán bộ, mà tôi không tiện nói tên, gọi tù nhân là những “con thú tù”. Có lần tôi phản ứng trước việc một cán bộ quản giáo trẻ tuổi đánh chửi một tù nhân lớn tuổi, thế là từ đó có chỉ đạo ngầm từ ban chỉ huy rằng quản giáo không nên đánh chửi tù nhân trước mặt tôi. Nhìn tù nhân bị chửi mắng và đánh đập, tôi không nghĩ họ được đối xử như con người khi sa chân vào chốn lao tù. Riêng tôi chưa bị đối xử như vậy vì thái độ cư xử của tôi luôn ôn hòa, từ tốn và không dễ bị khiêu khích một cách cố ý từ ai.

Cám cảnh thân phận của các tù nhân nói chung mà tôi từng trải qua, chứng kiến và nghe kể lại, tôi đã làm bài thơ sau đây để diễn đạt nỗi lòng và nỗi xót thương tận cùng của mình:

Phận mọn “thú tù” thua thú vật,
Đổi cơm cày nặng ách trâu bò.
Cãi lời quản giáo ngang nhiên đánh,
Phạm lỗi gia đình tốn kém lo.
Ngã bệnh cắn răng đau mắng chửi,
Muốn yên học nhẫn chịu dày vò.
Giữa trần địa ngục nay tin có,
Vàng mã nhân quyền giấy hóa tro!
(Làm tại khám Chí Hòa năm 2012)

VRNs: Xin chân thành cám ơn Ls Lê Công Định

Xin nhắc lại, trước khi Tù nhân lương tâm Huỳnh Anh Trí qua đời, ông đã can đảm công bố cho công luận biết ông đã bị nhiễm HIV/ AIDS trong thời gian bị giam cầm. Ông Trí khẳng định, ông bị nhiễm HIV/ AIDS qua đường máu với các bằng chứng sống động và thực như các cán bộ trại giam bắt các tù nhân, tù thường phạm phải sử dụng chung 1 con dao lam để cạo râu, cắt tóc… đặc biệt là các tù nhân, tù thường phạm bị “kỷ luật” mà “không biết điều” thì sẽ bị cùm những cùm dơ bẩn, vẫn còn rướm máu thịt của những người bị nhiễm HIV/AIDS đã bị cùm trước đó.

Ông Trí mãn hạn tù vào tháng 12.2013. Thời gian này, sức khỏe ông càng ngày càng nguy kịch. Vào tháng 5.2014, ông Trí đi xét nghiệm máu ở bệnh viện Pasteur cho kết quả dương tính với HIV/ AIDS và đã chuyển sang giai đoạn cuối là giai đoạn AIDS.

Ông Trí khẳng định, trước khi vào nhà tù, ông là một người khỏe mạnh nhưng sau khi mãn hạn tù ông đã mắc căn bệnh thế kỷ này. Ông Huỳnh Anh Trí quả quyết, ông bị nhiễm HIV/ AIDS là do sự ác ý và cố tình của nhà tù cs VN với chủ trương hủy diệt tính mạng các tù nhân lương tâm chính trị của nhà cầm quyền cs VN.
Huyền Trang, VRNs đặt câu hỏi
Ls Lê Công Định viết trả lời

Theo VRNs

Bùi Tín - Thu hồi tài sản phi pháp

14.07.2014

Đã gần 4 năm nay Liên Hiệp Quốc rất chú ý đến việc giúp các nước thu hồi những tài sản phi pháp trên toàn thế giới, đặc biệt là từ những chế độ độc đoán và tham nhũng.

Cách đây hơn 20 năm, khi chế độ CS ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các chế độ mới đã không kịp thời xử lý nghiêm những tài sản phi pháp của hệ thống cầm quyền cũ, nên tài sản chung đã bị tẩu tán, phân tán, lọt lưới pháp luật, tạo nên một số “tỷ phú mafia đỏ hậu cộng sản,” những phe nhóm lợi ích thuộc gia tộc các quan chức cầm quyền cũ; nhờ thế bọn này vẫn chế ngự và lũng đoạn nền kinh tế và tài chính quốc gia, mặc dù lịch sử đã sang trang.

Tháng 3 năm 2007, cuộc họp liên tịch giữa Tổ chức chống buôn lậu và tội ác của LHQ (UNODC) và một nhóm chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đã lập ra một cơ chế mang tên Stolen Asset Recovery Initiative (StAR– Chương trình thu hồi tài sản phi pháp) nhằm hướng dẫn và giúp đỡ các nước thực hiện việc thu hồi các tài sản phi pháp bị mất bởi nạn hối lộ, tham nhũng, buôn lậu cấp quốc gia và nộp các tài sản được thu hồi đó vào ngân sách nhà nước hoặc vào các quỹ từ thiện quốc tế nhằm giúp các nước đói nghèo trên thế giới.

Trước đó ở châu Âu đã có tổ chức Serious Organized Crime Agency (SOCA – Cơ quan chống tội ác có tổ chức nghiêm trọng) mang tính chất nghiệp vụ pháp lý chuyên giúp đỡ việc truy tìm những người phạm tội ác nghiêm trọng trong đó có tội tham nhũng ở mọi nơi, mọi nước, cũng như tổ chức Financial Crimes Enforcement Network (FICEN - Mạng luới chống tội ác về tài chính), hay tổ chức Agence Gestion et Recourement des Avoirs Confisqués (AGRAC - Cơ quan quản lý và giải quyết tài sản bị tịch thu). Chính những tổ chức này đã tham gia có hiệu quả vào việc giúp cho Indonesia và Philippines thu hồi một số tài sản phi pháp khá lớn của 2 cựu Tổng thống Suharto và Ferdinand Marcos sau khi 2 ông này bị lật đổ và truy tố. Riêng tài sản phi pháp của vợ chồng Marcos đã được thu về cho ngân sách nhà nước là 4 tỷ US$ trong tổng số 10 tỷ họ đã tước đoạt của công quỹ và nhân dân.

Gần đây các tổ chức trên đây đa giúp cho chính quyền mới ở Libya thu về hon 1 tỷ US$ của nhà độc tài Khaddafi để trao cho Hội đồng Chuyển tiếp sung vào ngân sách quốc gia; ngoài ra các ngân hàng ở Thụy Sỹ cũng đã tự nguyện trao trả cho chính quyền mới ở Tunisia 60 triệu Francs Thụy sỹ, cho chính quyền mới ở Ai Cập 410 triệu Francs Thụy Sỹ và cho chính quyền mới ở Libya 650 triệu Francs Thụy sỹ là tiền ký gửi của các nhà độc tài tham ô Ben Bella, Mubarak và Gadhafi.

Ở Việt Nam vấn đề theo dõi những tài sản tham nhũng phi pháp chưa được xã hội quan tâm thật sự. Những ai tham nhũng, tài sản tham nhũng từ đâu tới, hiện nằm ở đâu, được thu hồi ra sao, bị tẩu tán ra sao, làm sao truy thu được và trả lại vào ngân sách, là những vấn đề các nhà dân chủ, các nhà báo yêu nước, các nhà luật học và luật gia có công tâm cũng như các chuyên gia về thống kê, kế toán…cần quan tâm thu thập tài liệu chứng cứ thật chính xác, cùng với những chứng cứ phạm pháp của ngành công an trong đàn áp, tra tấn làm chết dân trong cơ quan an ninh và nhà giam.

Ví dụ vụ án in tiền polymer ở Úc, phía Úc đã xét xử công khai và tuyên án các kẻ phạm pháp, còn chuyển sang cho chính quyền VN rất nhiều tài liệu tư pháp xác nhận phía công ty Úc đã hối lộ cho các quan chức VN qua Đại tá Công an Lương Ngọc Anh số tiền ¨lại quả¨ lên đến hơn 10 triệu US$. Đã 4 năm nay vụ án bị ém nhẹm, Bộ truởng Tư pháp viện lý do là phía Úc gửi cho quá nhiều tài liệu cần phải dịch ra và nghiên cứu (!), và rồi vụ án bị chìm nghỉm, mặc dù phía Úc nói rõ rằng số tiền hối lộ 10 triệu US$ ấy, nếu thu hồi sẽ thuộc tài sản công của VN, sung vào ngân sách VN, vì đó là số tiền rút ra từ tiền lãi in giấy bạc cho VN. Phía Úc còn chuyển cả ảnh và ghi âm lời khai của bà tham tán thương mại trong sứ quán Úc thú nhận đã giao tiền tận tay ông Anh và từng 2 lần lên giường cùng ông Anh trong khách sạn ở Hà Nội. Vậy mà vụ án vẫn bị ỉm, coi như không có chuyện gì và kẻ tội phạm lớn Lương Ngọc Anh vẫn phởn phơ ngoài vòng luật pháp. Các nhà dân chủ và các luật gia có công tâm không thể để chìm nghỉm một vụ đã rõ ràng như thế. Đã có đại biểu Quốc hội nào chất vấn ông Nguyễn Bá Thanh, thường thực Ủy ban chống tham nhũng về vụ án đã hoàn toàn rõ ràng này? Bộ Luật chống tham nhũng hiện hành có cả một chương dành cho các vụ án có dấu hiệu liên quan với nuớc ngoài, quy định các cơ quan hành chính và tư pháp VN phải khẩn trương hợp tác để giải quyết các vụ án ấy.

Qua các vụ án lớn Vinashin và Vinalines cũng như vụ Bầu Kiên, vụ Dương Chí Dũng liên quan đến 2 tướng công an Phạm Quý Ngọ và Trần Đại Quang, những số tiền khủng hàng nghìn, chục nghìn tỷ đồng đã bị phân tán, tẩu tán gần hết, số tiền thu hồi không đáng kể. Vụ này được coi như là thất bại lớn nhất trong cái gọi là thành quả chống tham nhũng.

Đã đến lúc các anh chị em dân chủ trong nước, các nhà luật học và sinh viên ngành Luật có công tâm, các blogger tự do, các nhà báo trong Hội các nhà báo độc lập cùng các tổ chức dân sự cần chú ý lập phương án, thành lập cơ chế để sưu tầm tài liệu về các vụ tham ô, hối lộ, tham nhũng, ăn cắp tài sản công dưới mọi hình thức để đặt vấn đề phải thu hồi đến mức tối đa các tài sản phi pháp, không để cho tham nhũng phân chia, tẩu tán, cất dấu, gửi gắm trong nước và ngoài nước. Hãy học hỏi kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế và Liên Hiệp Quốc như cơ quan UNODC, StAR, hay các tổ chức SOCA, AGRAC, FICEN đuợc nói đến trên đây để tham gia có hiệu quả vào công cuộc chống tham nhũng.

Kinh nghiệm khắp nơi cho thấy các chính quyền độc đảng vì do bản chất tham nhũng - độc đoán không bao giờ thật lòng phòng chống tham nhũng. Các tổ chức xã hội dân sự, các nhà báo tự do, các nhà luật học có công tâm cần thực sự vào cuộc công khai, mạnh mẽ dựa vào công luận toàn xã hội mới mong xoay chuyển được tình thế, thu hồi tài sản phi pháp về cho đất nước, vì cuộc sống chung của toàn dân .

Không phải ngẫu nhiên công luận thế giới và châu Á đang bàn tán về chuyện các nhóm tư bản đỏ cỡ bự nhất ở Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên… đang tính chuyện di chuyển tài sản theo hướng nào. Và khi có biến động lớn bọn chúng và gia đình sẽ chạy đi đâu để trốn tránh sự phẫn nộ chính đáng của nhân dân? Đi châu Âu, sang Anh, Thụy Sỹ ? Sang Mỹ, Canada, Úc? Lưới trời lồng lộng, pháp luật quốc tế sáng tỏ bủa vây. Các tòa án quốc tế cửa luôn mở. Chạy sang Nga chăng? Hay sang châu Phi, châu Mỹ la tinh? Bay! Biến! Cho tay sai lót ổ trước ở nơi nào, khi đất đang rung chuyển dưới chân chúng… Nhưng chúng sẽ khó kiếm ra chỗ để hạ cánh an toàn, mang theo của cải, tiền bạc, châu báu. Chúng sẽ bị khám xét, săm soi, phải khai báo, giải trình… Nhiều nuớc đang thống kê danh sách khá cập nhật của bầy sâu bọ này.

Việc thu lượm tài liệu, chứng cứ, hồ sơ, phim ảnh của biết bao quan chức ở Trung ương, ở từng huyện, từng tỉnh, từng ngành, tại chức hay đã về hưu, từng ăn bẩn, phạm pháp, nhằm thu hồi cáctài sản phi pháp, là một công tác chính đáng, khẩn trương. Gần đây mới nổi lên những biệt thự phi pháp của ông Trần Văn Truyền khi còn làm thanh tra của chính phủ, một ông đội lốt Bao Công nhưng lộ tẩy là một con sâu loại bự của một chế độ đang tan rã. Còn đợi gì mà không trưng dụng ngôi nhà phi pháp đó để làm vườn trẻ, nhà mẫu giáo, trung tâm an dưỡng cho người tàn tật hay làm bệnh xá cho địa phương, qua xét xử công minh theo luật định, vì các đương sự không có cách gì chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của nó.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Người Việt ‘lo TQ, muốn Mỹ là đồng minh’

Đăng bởi Anh vào Thứ Ba

Vai trò của Mỹ và Trung Quốc với thế giới được các nước quan tâm

Một thăm dò dư luận cho biết đa số ở Việt Nam xem Trung Quốc là đe dọa số một và muốn Mỹ là đồng minh chủ chốt.

Thăm dò của Trung tâm nghiên cứu Pew tại Washington DC về thái độ của người dân tại nhiều nước được công bố hôm 14/7.

Kết quả tại Việt Nam dựa trên thăm dò từ 18/4 đến 8/5 với 1000 người tuổi từ 18 trở lên.

Tại Việt Nam, chỉ có 16% người được hỏi có thiện cảm với Trung Quốc, 67% cho Ấn Độ, 76% cho Mỹ và 77% cho Nhật.

Khi được hỏi nước nào là đe dọa lớn nhất, 74% người Việt chọn Trung Quốc.

30% chọn Mỹ là đồng minh chủ chốt, khiến Mỹ có điểm cao nhất tại Việt Nam cho câu hỏi về đồng minh.

69% người Việt cho rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ thay Mỹ làm siêu cường, trong khi chỉ có 17% tin điều này đã hay sẽ xảy ra.

Đồng minh và đe dọa

Không phải nước nào ở châu Á cũng có thái độ chống Trung Quốc.

Trong 10 nước châu Á được khảo sát, có sáu nước mà ở đó, đa số bày tỏ cảm tình với Trung Quốc. Ví dụ, tại Hàn Quốc là 56%, Indonesia 66%, Thái Lan 72%, Malaysia 74%, Bangladesh 77%, Pakistan 78%.
Nhật Bản nhận được cảm tình của ít nhất một nửa người được hỏi tại bảy nước châu Á – cao nhất là Thái Lan 81% và Philippines 80%.

Tranh chấp lãnh thổ khiến chỉ có 7% tại Nhật, 16% ở Việt Nam, và 38% ở Philippines có cảm tình với Trung Quốc.


Việt Nam và Trung Quốc gia tăng căng thẳng vì vụ giàn khoan

Ngược lại, chỉ có 8% ở Trung Quốc có cảm tình với Nhật, nhưng cũng có 50% người Trung Quốc cảm tình với Mỹ.
Đa số tại châu Á xem Mỹ là quốc gia họ có thể nhờ cậy.

8 trong 11 nước châu Á chọn Mỹ là đồng minh số một, như Hàn Quốc 68%, Nhật 62%, Ấn Độ 33%. Tại Việt Nam, 30% chọn Mỹ là đồng minh.

Có hai nước châu Á trong khảo sát chọn Trung Quốc là đồng minh: Malaysia 27% và Pakistan 57%.

Người Trung Quốc xem Nga là đối tác đáng tin cậy nhất (25%) và Mỹ là đe dọa (36%).

Tranh chấp biển đảo

Nhìn chung, các nước châu Á đều lo ngại về rủi ro chiến tranh do mâu thuẫn biển đảo giữa Trung Quốc và các nước láng giềng.

Đa số người dân tại tám nước châu Á lo lắng tranh chấp có thể dẫn đến chiến tranh.

Tỉ lệ lo ngại này cao nhất ở Philippines 93%, Nhật 85%, Việt Nam 84% và Hàn Quốc 83%.

Tại Trung Quốc, cũng có 62% lo ngại về rủi ro chiến tranh, còn 34% không lo lắng.

Đáng quan tâm là 61% tại Philippines và 51% tại Việt Nam nói họ “rất lo ngại” về khả năng xung đột quân sự với Trung Quốc.

Hai phần ba người Mỹ được hỏi (67%) cũng lo lắng chiến tranh có thể xảy ra vì mâu thuẫn lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước.
Theo BBC

Lý giải sự suy giảm của các cuộc chiến tranh lớn

Đăng bởi Anh vào Thứ Hai

Khoảng đầu năm 1989 tôi đã xuất bản cuốn sách Rút lui khỏi ngày tận thế: Sự lỗi thời của Chiến tranh nói về các cuộc chiến tranh giữa các nước phát triển. Nhà nghiên cứu lịch sử quân sự và ngoại giao – Michael Howard đã phê bình quyển sách này với một thái độ hết sức hoài nghi về luận điểm chính của nó, đồng thời đưa ra một lời khuyên hữu ích rằng “người đọc cẩn trọng sẽ kiểm tra xem hầm tránh bom của mình có còn sử dụng được không”. Nhưng sau đó, vào năm 1991, chính Michael Horward đã nói “có khả năng các cuộc chiến tranh theo nghĩa là những xung đột vũ trang lớn giữa các xã hội có trình độ phát triển cao sẽ không tái diễn, và một khuôn khổ ổn định cho trật tự thế giới sẽ được hình thành một cách vững chắc”.[i]

Hai năm sau đó, nhà sử học đồng thời là nhà phân tích quân sự John Keegan đã kết luận trong tác phẩm Lịch sử Chiến tranh rằng loại hình chiến tranh chủ yếu mà ông nghiên cứu có thể đang ở giai đoạn cáo chung:
Sau khi dành cả đời nghiên cứu về vấn đề này, tiếp xúc với những người trong cuộc, đi thăm nhiều điểm chiến sự và theo dõi các tác động của chiến tranh thì theo tôi, chiến tranh dường như không còn là một phương tiện đáng mong muốn hay hiệu quả, chứ chưa nói là hợp lý, để con người giải quyết các bất đồng của mình.[ii]

Vào cuối thế kỷ 20, Mary Kaldor cho rằng “sự tàn bạo của các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia có thể đã trở thành dĩ vãng” và trước thềm thế kỉ mới, Robert Jervis kết luận rằng chiến tranh giữa các cường quốc “sẽ không xảy ra trong tương lai” hay theo cách diễn đạt của Jeffrey Record thì chiến tranh có thể “biến mất hoàn toàn”.[iii]

Từ đó đến nay, thế giới dường như vẫn tiếp tục, thậm chí còn tăng tốc công cuộc rút lui khỏi ngày tận thế – một từ đã bắt đầu mang hàm ý khá lạ trong hơn 15 năm qua. Và, mặc dù có hơi chủ quan nhưng chẳng còn ai quan tâm đến việc bảo quản những hầm tránh bom của mình nữa.

Không chỉ các quốc gia phát triển đã tránh được chiến tranh với nhau trong suốt thời kì Chiến tranh lạnh mà thực ra có rất ít các cuộc chiến tranh trên bình diện quốc tế dưới bất kỳ hình thức nào từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Chỉ có một ngoại lệ thực sự đáng chú ý từ năm 1975 (và đây cũng là một ngoại lệ quan trọng), đó là cuộc chiến đẫm máu giữa Iran và Iraq kéo dài từ năm 1980 đến năm 1988. Ngoài ra, mặc dù xung đột vũ trang giữa chính phủ Israel và quân nổi dậy Palestine vẫn diễn ra thường xuyên nhưng từ sau năm 1973 đến nay, không có quốc gia Arập hay Hồi giáo nào muốn xung đột leo thang thành chiến tranh quốc tế bằng cách gửi binh lính trực tiếp tham chiến. Đồng thời, các cuộc nội chiến, chiến tranh thực dân và chiến tranh ý thức hệ dường như cũng trong quá trình suy giảm.

Thái độ đối với chiến tranh đang thay đổi

Theo tôi, hiện tượng đáng chú ý này chủ yếu bắt nguồn từ việc thái độ đối với giá trị và tính hiệu quả của chiến tranh đã thay đổi, đặc biệt là trong thế kỷ vừa qua, và điểm mấu chốt của hiện tượng này nằm ở ý đồ của những nhà truyền bá tư tưởng. Một sự thất vọng sâu sắc đối với chiến tranh đã xuất hiện ở châu Âu vào thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới thứ nhất. Điều này không phải bởi cuộc chiến đó hết sức tàn phá và hao tốn của cải mà mà là vì thành công của những nhà truyền bá tư tưởng của phong trào phản chiến trước cuộc đại chiến thế giới này. Họ đã đưa ra một lập luận vào thời điểm đó được coi là mới mẻ rằng chiến tranh, mà theo ý họ chủ yếu là chiến tranh giữa các nước phát triển, phải bị loại bỏ.[iv] Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ở châu Âu gần như do Adolf Hitler một tay gây ra bởi lẽ bối cảnh lịch sử lúc đó không cho thấy sự cần thiết phải có một cuộc chiến trên lục địa khác ở khu vực này và các nước lớn cũng không có mâu thuẫn dẫn tới xung đột. Nguyên nhân của Chiến tranh Lạnh, theo tôi, chủ yếu là do sự sùng bái ý thức hệ về bạo lực cách mạng và chiến tranh giai cấp quốc tế của những người theo chủ nghĩa Cộng sản và điều này được coi là sự bành trướng đe dọa nền dân chủ tư bản phương Tây. Tuy nhiên, mặc dù có mâu thuẫn quyết liệt về ý thức hệ giữa thế giới Cộng sản và phi Cộng sản và cho dù đã xảy ra cuộc chiến tranh đại diện ở Triều Tiên – cuộc chiến đã khiến người ta mãi mãi mất lòng tin vào thăm dò quân sự hạn chế như là một kỹ thuật thúc đẩy cách mạng, một cuộc chiến tranh lớn chưa bao giờ thực sự nằm trong tính toán của các bên.[v]

Trong phần lớn tiến trình lịch sử, chiến tranh được chấp nhận như một quy luật tự nhiên, không thể tránh được và thường là đáng mong muốn của xã hội loài người. Tuy nhiên, trong thế kỷ qua, dường như chiến tranh dang dần đánh mất sự chấp nhận tự nhiên đó và đang trở nên lỗi thời giống như chế độ nô lệ hay các cuộc đấu tay đôi trước đó. Đặc biệt, trong khi chiến tranh theo nghĩa vật chất vẫn hoàn toàn có thể xảy ra, thì dường như chiến tranh lớn – chiến tranh giữa các nước phát triển – đang ngày càng khó xảy ra hơn khi mà các nước này nắm được vận mệnh của chính mình và quyết định rằng chiến tranh không nên/ không nhất thiết là một phần trong mối quan hệ của họ. Hiện nay, chiến tranh giữa các cựu thù trong thế giới phát triển, chẳng hạn như giữa Pháp và Đức đã trở thành một sự vô lý không thể tưởng tượng được – thậm chí không phải là một lựa chọn có lý trí, và nếu cuộc chiến này có xảy ra thì cũng sẽ bị bác bỏ không phải vì đó là điều không khôn ngoan mà là vì nó hết sức ngớ ngẩn.[vi]

Sự giảm tàn hiển nhiên của chiến tranh, hoặc ít nhất là của những loại hình chiến tranh phổ biến nhất, có thể là một phần của xu hướng lớn hơn, tách biệt với sự chấp nhận một số hình thức giết người có chủ ý, ít nhất là trong thế giới phát triển. Ví dụ như tục giết trẻ sơ sinh để làm vật hiến tế đã giảm đi trong những thế kỷ qua, điều mà theo Barbara Ehrenreich đã từng là “tập quán phổ biến trong nhiều nền văn hóa khác nhau, từ các bộ tộc nhỏ đến các nền văn minh đô thị vĩ đại”.[vii] Một hiện tượng mới hơn đã được David Garfield tóm lược lại như sau:

Hiện tại mặc dù không hoàn toàn đồng thuận với nhau nhưng vẫn có có một sự nhất trí tương đối giữa các nhà sử học rằng thời kì từ năm 1700 đến nay đã chứng kiến sự thay đổi trong thái độ đối với bạo lực, sự ác cảm tăng lên đối với tất cả các thể loại tội ác, và sự xuất hiện của một hệ thống quan điểm mới làm thay đổi bản chất của các mối quan hệ và lối hành xử giữa con người với nhau.[viii]

Trước hết, rõ ràng là việc thực thi công lý một cách phi chính thức – do các đội dân phòng, các nhóm phân biệt chủng tộc hay các nhóm vũ trang – đã giảm đi. Các hình thức tử hình từng được chấp nhận trước đây như để giải quyết những mối thù truyền kiếp hay nợ máu nhìn chung cũng ít xuất hiện hơn trong nhiều nền văn hóa. Donald Horowitz cũng ghi nhận sự suy giảm rõ nét và có lẽ là có liên quan đến nhau của những cuộc bạo động chết người ở phương Tây.[ix] Các cuộc đấu tay đôi từng diễn ra thường xuyên trong một số tầng lớp xã hội nhất định cũng đã trở nên lạc hậu. Việc kết án tử hình những kẻ giết người cũng đã được xóa bỏ ở hầu hết các nước phát triển, và sự tra tấn thể xác từng rất phổ biến cũng đã ngừng được áp dụng. Cuối cùng, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng giết người hay việc sử dụng bạo lực với con người nói chung phổ biến hơn ở những thế kỉ trước, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.[x]

Những lý giải khác cho sự suy giảm của chiến tranh

Khi nhấn mạnh vào sự thay đổi thái độ đối với chiến tranh để giải thích sự suy giảm của nó, tôi đồng ý với nhận xét của Robert Dahl rằng:

Do bận tâm đối với sự vững chắc của lý thuyết và không hài lòng với “sự mềm dẻo” của các mô tả, khái quát và lý giải lịch sử, hầu hết các nhà khoa học xã hội đã quay lưng lại với sự vận động mang tính lịch sử của các ý tưởng. Kết quả là, các lý thuyết của họ, dù “vững chắc” đến đâu, cũng đã bỏ sót một biến số mang tính lý giải quan trọng và thường dẫn tới những giản hóa luận ngây thơ.[xi]

Theo Dahl, vì niềm tin và tư tưởng thường là “một biến số độc lập chủ yếu”, việc lờ đi những thay đổi trong tư tưởng, ý thức hệ và thái độ đồng nghĩa với việc bỏ qua những điều quan trọng. Nghĩa là, các tư tưởng luôn để lại những hậu quả.[xii]

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một số cách lý giải khác cho sự suy giảm của chiến tranh. Một vài quan điểm trong số này nhấn mạnh ảnh hưởng của công nghệ, đặc biệt là vũ khí hạt nhân, số khác nhấn mạnh tác động của phát triển kinh tế, chi phí chiến tranh tăng lên, sự trỗi dậy của thể chế dân chủ, gia tăng thương mại quốc tế hay là vai trò của các thể chế quốc tế.

Vũ khí hạt nhân

Trong quá trình đi tìm lời giải thích cho bước ngoặt không gắn với sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử – sự biến mất tuyệt đối vô tiền khoáng hậu của các cuộc chiến tranh lớn trong nửa thế kỉ qua – nhiều nhà phân tích đã chỉ ra nguyên nhân chính là phát minh ngẫu nhiên về vũ khí hạt nhân vào năm 1945 và nhấn mạnh vào sự khiếp sợ đặc biệt mà nó mang lại.[xiii] Những phân tích này áp dụng cái được gọi là “giả định phản thực tiễn của Churchill”, một giả định ghi nhận sự xuất hiện của một “nghịch lý kỳ lạ” và một “sự châm biếm tuyệt vời” từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, theo đó vũ khí hạt nhân bao phủ “một khu vực nguy hiểm chết người” với hậu quả tiềm tàng rằng “an toàn sẽ trở thành mầm mống khủng bố đáng sợ, và sự sinh tồn trở thành anh em sinh đôi của sự hủy diệt”.[xiv] Nói một cách ngắn gọn súc tích và ít trau chuốt hơn, giả định phản thực tiễn của Churchill cho rằng nếu vũ khí hạt nhân không được phát minh ra thì khó mà tránh khỏi thảm họa. Có nghĩa là những người điều hành thế giới sau năm 1945 về cơ bản là quá bất cẩn và quá xem thường tính mạng con người, chỉ thích lao vào xung đột, quá bạo ngược, quá háo hức với sự tận diệt, quá kém cỏi, và/hoặc là ngớ ngẩn đến mức không thể tránh không đâm đầu vào hoặc bị cuốn vào một cuộc chiến tranh lớn khi mà theo dự đoán của họ, điều tồi tệ nhất có thể xảy ra chắc cũng chỉ bằng sự hủy diệt thảm khốc mà họ vừa trải qua trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Vì vậy những người căm ghét chiến tranh có lẽ nên nghe theo lời khuyên của Kenneth Waltz và “cám ơn sự phù hộ của vũ khí hạt nhân” hay, theo Elspeth Rostow thì vũ khí hạt nhân xứng đáng giành được giải Nobel hòa bình.[xv]

Tôi nghĩ lập luận ngược lại giả thuyết của Churchill có vẻ hợp lý hơn. Nghĩa là, giả sử vũ khí nhạt nhân không được phát minh ra thì lịch sử của thế giới có lẽ sẽ diễn ra giống như nó đã từng diễn ra.[xvi] Nói một cách cụ thể là vũ khí hạt nhân và khả năng tàn phá của nó không nhất thiết đã khiến các nhà lãnh đạo thế giới từ năm 1945 quá lo ngại sự lặp lại của những điều đã diễn ra trong Chiến tranh thế giới thứ hai (hoặc của Chiến tranh thế giới thứ nhất). Suy cho cùng, phần lớn các nhân vật này chính là những người trực tiếp lãnh đạo hoặc truyền nhân của những người đã cố gắng một cách tuyệt vọng, điên cuồng, thống thiết và cuối cùng là bất thành trong việc ngăn chặn Chiến tranh thế giới thứ hai. Họ làm như vậy một phần do sợ hãi – đúng hơn là do họ cảm thấy không thoải mái khi phát hiện ra rằng một cuộc đại chiến khác có thể sẽ còn tệ hơn Chiến tranh thế giới thứ nhất.[xvii] Tôi không hiểu nổi bằng cách nào mà những con người với nhận thức như vậy, vừa trải qua những sự kiện sống động và kinh hoàng như vậy lại trở thành những người, nói nhẹ nhất thì là bất cẩn, mà nặng lời nhất thì là háo hức muốn lặp lại sự thảm khốc đó. Nhưng thực chất đó chính là những gì mà giả định phản thực tiễn của Churchill muốn chúng ta tin.

Và bên cạnh đó cũng có thêm một vài yếu tố quan trọng gây nên sự thoái trào của chiến tranh. Thế giới từ năm 1945 được lãnh đạo bởi những người chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và nhìn chung thì họ hài lòng với nguyên trạng lãnh thổ. Hơn thế nữa, mặc dù ý thức hệ Cộng sản – yếu tố gây lo ngại nhất trong suốt thời kì Chiến tranh Lạnh – chọn đường lối bạo lực, nó thực ra lại nhấn mạnh vào cách mạng nội khối và trong nước chứ không hẳn là một cuộc xâm lược vượt ra ngoài biên giới quốc gia, và đồng thời cũng phải kể đến sự nhấn mạnh vào sách lược đầy thận trọng của Lenin.

Tất nhiên những lập luận này không nhằm phủ nhận rằng việc hoạch định một cuộc chiến tranh hạt nhân là quá kinh khủng và ghê gớm đối với trí óc, đặc biệt là tốc độ phá hủy trên quy mô lớn khủng khiếp của nó. Và tôi cũng không phủ nhận rằng những nhà hoạch định chính sách trong cả giai đoạn khủng hoảng và không khủng hoảng đều nhận thức rõ về những thảm họa mà chiến tranh hạt nhân có thể gây ra. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng sự khủng khiếp của việc lặp lại Chiến tranh thế giới thứ hai cũng để lại ấn tượng không kém và những người lãnh đạo thực chất đang bằng lòng với hiện trạng của thế giới sẽ cố gắng đấu tranh để tránh bất kỳ điều gì mà họ cảm thấy có thể dẫn đến thảm họa. Một cú nhảy từ cửa sổ tầng thứ 50 của một tòa nhà có lẽ sẽ đáng sợ hơn là một cú nhảy từ tầng 5, nhưng bất kì ai thấy rằng cuộc sống này đáng sống, dù chỉ ở mức tối thiểu, sẽ không muốn làm bất cứ hành động nào nói trên.[xviii]

Tuy nhiên, trong khi hình ảnh những đám mây hình nấm không nhất thiết khiến các nhà lãnh đạo thế giới từ sau năm 1945 phải thận trọng về một cuộc đại chiến, có những hoàn cảnh giả định khác trong đó việc sở hữu vũ khí hạt nhân có thể tỏ ra hữu ích – ví dụ như sự xuất hiện một kẻ cuồng tín may mắn, khôn khéo, liều lĩnh và hung bạo khác như Hitler. Hơn thế nữa, trong nhiều trường hợp vũ khí hạt nhân có thể làm nên sự khác biệt. Ví dụ như Iraq có thể đã không tấn công Iran vào năm 1980 hoặc Kuwait năm 1990 nếu như hai nước này có vũ khí hạt nhân để đáp trả. Lập luận ở đây không phải là phủ nhận việc vũ khí hạt nhân có thể tạo nên sự khác biệt, nhưng sự tồn tại của nó chưa hẳn cần thiết để tạo nền hòa bình lâu dài mà các nước phát triển đã được hưởng hơn một nửa thế kỷ qua.

Phát triển kinh tế và cách mạng công nghiệp

Trong nỗ lực đánh giá sự trỗi dậy của tinh thần chống chiến tranh trong thế giới phát triển,

Michael Howard xem sự phát triển kinh tế như một nhân tố. Ông nhận xét rằng tại một thời điểm, các nước phát triển đã từng được tổ chức thành “xã hội của các chiến binh”, trong đó chiến tranh được xem là “số phận cao cả nhất của loài người”. Nhưng ông cho rằng điều này đã bị thay đổi bởi quá trình công nghiệp hóa khi nó “cuối cùng đã sản sinh ra một xã hội không chuộng chiến tranh mà tập trung vào sự thịnh vượng về vật chất hơn là những bản anh hùng ca”.[xix]

Vấn đề chính của lý luận này, mà có vẻ Howard cũng nhận ra, là tiến trình công nghiệp hóa có quá trình rất phức tạp lắt léo. Giai đoạn giữa 1750 và 1900, các nước phát triển đã trải qua cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển vượt bậc của kinh tế, sự trỗi dậy của tầng lớp trung lưu, sự tiến bộ đáng kể của giao thông và truyền thông, tỉ lệ người biết chữ tăng nhanh, và sự lớn mạnh của thương mại quốc tế. Tuy nhiên, nếu hiện tượng này khuyến khích một số người từ bỏ tinh thần chiến tranh, thì đồng thời nó dường như cũng khiến một số người lại càng yêu thích chiến tranh hơn. Chính Horward đã theo dấu sự tồn tại dai dẳng, thậm chí là trỗi dậy, của tinh thần quân phiệt khi nó kết hợp với làn sóng dân tộc bành trướng chủ nghĩa trong giai đoạn châu Âu tiến hành công nghiệp hóa ở thế kỷ 19. Như vậy công nghiệp hóa có thể tác động đến chủ nghĩa hiếu chiến cũng nhiều như ảnh hưởng của nó lên chủ nghĩa hòa bình. Howard chưa bao giờ thật sự lý giải bằng cách nào hay tại sao quá trình công nghiệp hóa lại chắc chắn dẫn đến tinh thần phản chiến. Thay vào đó, nỗi kinh hoàng và các cuộc tàn sát gắn liền với quá trình công nghiệp hóa lại được ông quy vào “những vấn đề ngày càng lớn của xã hội công nghiệp”.[xx]

Phí tổn cho chiến tranh ngày càng tăng

Carl Kaysen đã kết luận rằng chiến tranh quân sự đang trở nên lỗi thời, và ông đã phát triển một luận điểm tương tự với Howard, nhưng chi tiết hóa hơn về tiến trình, đặc biệt là về khía cạnh kinh tế của nó. Ông lý luận rằng “trong phần lớn lịch sử nhân loại, xã hội được cơ cấu theo định hướng chiến tranh mang lại lợi ích cho người chiến thắng, cả về mặt kinh tế lẫn chính trị”. Tuy nhiên “những biến đổi sâu sắc … mà cuộc Cách mạng Công nghiệp mang lại đã thay đổi các giá trị trong tính toán đó”, dẫn đến việc lợi ích tiềm năng của chiến tranh giảm đi, trong khi phí tổn tiềm năng tăng lên.[xxi] Kaysen có xu hướng giảm thiểu những phí tổn kinh tế của chiến tranh trước kỷ nguyên hiện đại, nhưng rất nhiều nghiên cứu cho thấy chi phí này là đặc biệt cao cho cả người thắng và kẻ thua. Dù sao thì khái niệm “chiến thắng phải trả giá đắt” cũng đã xuất hiện từ cuộc chiến năm 279 Trước Công nguyên.

Theo Frederick Đại đế, nước Phổ đã mất 1/9 dân số trong Cuộc chiến 7 năm, một tỉ lệ cao hơn hẳn tổn thất của bất kỳ quốc gia nào tham chiến trong các cuộc chiến tranh của thế kỷ 20. Dân số Đức giảm khoảng 15 – 20% trong Cuộc chiến 30 năm, và theo như Kalevi Holsti tính toán, “xét trên số thương vong trực tiếp và gián tiếp, theo tỉ lệ của dân số” thì đó là cuộc xung đột vũ trang mang tính tàn phá lớn nhất của Châu Âu.[xxii] Lawrence Keeley dẫn chứng rằng các cuộc chiến cổ xưa thậm chí còn có tỉ lệ chết chóc cao hơn cả một trong hai cuộc Chiến tranh thế giới.[xxiii] Rất nhiều cuộc chiến tại châu Âu trước đây kéo dài đến khi các bên tham chiến đều cạn kiệt về kinh tế mới thôi. Phân tích của Richard Kaeuper về những tác động của hàng thập kỷ chiến tranh trong cuối thời trung đại đã ghi nhận tình trạng kiệt quệ về tài sản, các ngân hàng phá sản, thương mại đình trệ, dân số suy giảm trên diện rộng, các khu đất trồng trọt biến mất, sản xuất sụt giảm, thu nhập xuống thấp, hệ thống tiền tệ và tín dụng trì trệ, đầu cơ tích trữ vàng, và xuất hiện các loại thuế (kèm theo sự nhũng nhiễu) để sung quỹ cho chiến tranh. Cuộc chiến 30 năm đã kéo nền kinh tế Đức đi lùi hàng thế kỷ, Cuộc chiến 7 năm đưa Áo vào tình trạng gần như phá sản, trong khi nhiều cuộc chiến tranh cổ đại về cơ bản đã phá hủy toàn bộ các xã hội. Hơn nữa, các cuộc nội chiến thường là sự tiến hành chủ nghĩa bạo ngược một cách có tổ chức, nó phá hủy cả hai phía, và nhiều cuộc chiến tranh cổ đại về cơ bản đã xóa bỏ toàn bộ xã hội. Thật ra, theo Keeley, bởi vì các phí tổn chiến tranh là quá cao đối với các xã hội cổ đại, do đó chiến tranh lẽ ra phải ít xảy ra giữa họ hơn là giữa các nhà nước và đế chế, nhưng có vẻ sự việc lại diễn ra theo chiều hướng ngược lại.[xxiv]

Mặt khác, trong vòng vài năm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, hầu hết các quốc gia tham chiến về căn bản đã phục hồi về mặt kinh tế: năm 1929, kinh tế Đức đã hoàn toàn phục hồi như giai đoạn trước cuộc chiến, trong khi nền kinh tế Pháp đã tăng 38% so với trước chiến tranh. Không những thế, nước Đức đã phục hồi nền kinh tế từ những tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ hai trong vòng 5 năm, trong khi Nhật Bản – vốn nghèo hơn, và thậm chí còn bị tàn phá nặng nề hơn trong cuộc chiến đó, đã phục hồi trong vòng chưa đến 10 năm. Trong số những người chiến thắng, Chiến tranh thế giới thứ hai chắc chắn là một mối lợi kinh tế cho Mỹ (và số thương vong mà quốc gia này gánh chịu, theo tỉ lệ phần trăm với dân số, là rất nhỏ so với số thương vong trong bao nhiêu cuộc chiến trước đó). Không chỉ từ lâu được biết đến với sức tàn phá kinh khủng, thậm chí là hủy diệt, mà nhiều người còn tin rằng những cuộc chiến tranh khủng khiếp hơn những gì được biến đến. Thật ra, nhìn chung thì các câu chuyện chiến tranh thường phóng đại quy mô tàn phá và thương vong. Ví dụ, một truyền thuyết thịnh hành hàng thế kỷ sau Cuộc chiến 30 năm kể rằng Đức đã mất 75% dân số trong cuộc chiến đó.[xxv] Tuy nhiên, những niềm tin và trải nghiệm đó chưa bao giờ gây ra một sự hoang mang trên diện rộng về chiến tranh như một thể chế, hay khuyến khích các nhu cầu hiệu quả và có tổ chức về việc loại bỏ chiến tranh. Thay vào đó, chiến tranh tiếp tục được chấp nhận như một cách thức giải quyết xung đột thông thường.

Alan Milward nhận định “Câu hỏi có ý nghĩa nhất là liệu chi phí chiến tranh có ngốn mất một tỷ lệ ngày càng lớn trong Tổng sản lượng quốc gia ngày càng tăng của các nước tham chiến hay không. Với tư cách là một lựa chọn kinh tế, chiến tranh, tính toán theo cách này, không thể hiện xu hướng gia tăng về phí tổn một cách rõ ràng và lâu dài.”[xxvi] Hơn nữa, theo luận điểm của Howard, vấn đề là sự bành trướng mạnh mẽ về phát triển kinh tế ở châu Âu thế kỷ 19 không chỉ kèm theo xu hướng hòa bình (suy cho cùng), mà còn có khát khao đầy lãng mạn về quá trình thanh lọc của chiến tranh.
(đọc thêm tại: nghiencuuquocte.net)
Nguồn:

Mueller, John (2006). “Accounting for the Waning of Major War,” in Raimo Vayrynen, ed., The Waning of Major War: Theories and Debates (London and New York: Routledge), pp. 64-79.

Biên dịch: Nguyễn Thị Tâm | Hiệu đính: Ngô Thị Thu Hương

nghiencuuquocte.net

Chú thích

[i] M. Howard, “A Death Knell for War?”, New York Times Book Review

[ii] John Keegan, A History of Warfare(New York: Alfred A. Knopf : Distributed by Random House, Inc., 1993).

[iii] Mary Kaldor, New and Old Wars : Organized Violence in a Global Era(Stanford, Calif.: Stanford University Press, 1999)., p.5; R. Jervis, “Theories of War in an Era of Leading Power Peace”, American Political Science Review, 96 (2002), p.1; J. Record, “Collapsed Countries, Casualty Dread, and the New American Way of War”, Parameters, Summer (2002), p.6. Xem thêm M. Mandelbaum, “Is Major War Obsolete?” Survival, 40, 4 (1998-9), pp. 20-38; M. Mandelbaum, The Ideas That Conquered the World: Peace, Democracy, and Free Markets in the Twenty-first Century (New York: Public Affairs, 2002); P. Johnson, “Another 50 Years of Peace?” Wall Street Journal, 9May 1955; A. Mack, “Civial War: Academic Research and the Policy Community”, Journal of Peace Research, 39, 5 (2002), p. 523.

[iv] Xem J. Mueller, Quiet Cataclysm: Reflections on Recent Transformation of World Politics (New York: HarperCollins, 1995), ch. 9.

[v] Xem Mueller, Retreat from Doomsday: The Obsolescence of Major War (New York: Basic Books, 1989), chs. 3-9. Về Hitler, xem thêm J. Mueller, The Remnants of War (Ithaca: Cornell University Press,2004), pp. 54-65.

[vi] Xem Mueller, Retreat from Doomsday, pp. 240-4.

[vii] B. Ehrenreich, Blood Rites: Origins and History of the Passions of War (New York: Metropolitan, 1997), p. 61. Xem thêm R.C. Forsberg, “Socially-Sanctioned and Non-Sanctioned Violence: On the Role of Moral Beliefs in Causing and Preventing War and Other Forms of Large Group Violence”, in R. Stanley (ed.) Gewalt und Konflict in Einer Globalizierten Welt: Festschrift fur Ulrich Albrecht (Wiebaden: Westdeuscher Verlag, 2001).

[viii] D. Garfield, Punishment and Modern Society: A Study in Social theory (Chicago: University of Chicago Press, 1990), p.232.

[ix] D.L. Horowitz, The Deadly Ethnic Riot (Berkeley: University of California Press, 2001), pp. 560-5.

[x] Về án tử hình, xem Garfield, Punishment and Modern Society, pp. 225-9. Về xu hướng án giết người, xem J.B Given, Society and Homicide in Thirteenth Century in England (Standford: Stanford University Press, 1977); T.R. Gurr, “Historical Trends in Violent Crime: A critical Review of the Evidence”, Crime and Justice, 3 (1981), pp. 295-353; Garfield, Punishment and Modern Society, pp 230-1; L.H. Keeley, War Before Civilization: The Myth of the Peaceful Savage (New York: Oxford University Press, 1996), p.118; C.Tilly, The Politics of Collective Violence (New York: Cambridge University Press, 2003), pp. 60-1. Đấu súng tay đôi không còn phổ biến vì nó được xem như một dạng hành vi kỳ quặc, chứ không phải vì có các hình thức giải quyết xung đột ưu việt hơn. Xem Mueller, Retreat from Doomsday, p. 10.

[xi] R.A. Dahl, Polyarchy (New Haven, Yale University Press, 1971), pp.182-3, 188.

[xii] Ibid. Xem thêm A. Wendt, Social Theory of International Relations (New York: Cambridge University Press, 1999), ch. 3.
 
Copyright © 2009. ↑ Khối 8406 Việt Nam - All Rights Reserved
Hội Huynh Đệ Người Việt