Khối 8406 Việt Nam
Khối 8406 Việt Nam: Chính trị - Xã hội
Tin Nổi Bật
print this page
Bài Mới
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị - Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị - Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Tuyên cáo về tập hợp vì nền dân chủ tại Hồng Kông và Việt Nam

Đăng bởi Anh vào Chủ Nhật


Kính gởi toàn thể nhân dân Hồng Kông tại thực địa và hải ngoại.
Đồng kính gởi toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước


Những cuộc biểu tình ôn hòa phản đối nhà cầm quyền Trung cộng tráo trở tước quyền tự quyết của nhân dân Hồng Kông từ mấy tuần nay đã làm cho cả thế giới chấn động và đa phần đều khâm phục lẫn ủng hộ. Đây là cao điểm của một cuộc đối kháng lâu dài sau khi Hồng Kông thuộc về lại Trung Quốc năm 1997, đặc biệt là từ năm 2012, lúc nhà cầm quyền Bắc Kinh từng bước nuốt lời hứa cho Hồng Kông hưởng một quy chế tự trị cao với nền dân chủ thật trong vòng nửa thế kỷ. Ngoài việc đào sâu thêm hố phân cách giàu nghèo, gây khó khăn cho cuộc sống tại đặc khu hành chánh này, nhà cầm quyền Trung cộng còn muốn tước quyền ứng cử lẫn bầu cử của nhân dân và đầu độc giới trẻ bằng một nền giáo dục ngu dân lẫn nô dịch.

Hiệp thông cùng vô số cá nhân, đoàn thể, tổ chức tại nhiều quốc gia cũng như tại Việt Nam đang bày tỏ lòng ủng hộ bằng nhiều cách đối với cuộc tranh đấu của sinh viên cùng nhân dân Hồng Kông, các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam ký tên dưới đây đồng tuyên bố như sau:

1- Chúng tôi vô cùng cảm phục thái độ ôn hòa, tinh thần cương quyết, tài năng tổ chức, đầu óc tỉnh táo, kỷ luật chặt chẽ và cung cách văn minh lịch sự của các bạn trẻ Hồng Kông (gồm hàng trăm ngàn sinh viên lẫn học sinh) khi đòi hỏi quyền phổ thông đầu phiếu, khẳng định lập trường bất tuân dân sự và bày tỏ thái độ phản đối chế độ cộng sản, trước một nhà cầm quyền địa phương hoàn toàn bị Bắc Kinh chi phối và trước lực lượng cảnh sát đông đảo đang bắt đầu có những hành vi bạo lực (dùng dùi cui, xịt tiêu lỏng và ném lựu đạn cay…).

2- Chúng tôi hết lòng hoan nghênh việc cha mẹ, thầy cô ủng hộ và đồng hành cùng các bạn sinh viên học sinh Hồng Kông vì thấy hậu duệ và học trò của mình đang tiếp nối tinh thần và sự nghiệp xây dựng dân chủ; việc thành phần cư dân lớn tuổi thông cảm, hỗ trợ và bênh vực các bạn trẻ đang xuống đường vì ý thức đó là trách nhiệm tập thể của một cộng đồng cùng chung vận mệnh; việc nhiều lãnh đạo tinh thần, chức sắc tôn giáo động viên và hướng dẫn các tín đồ trẻ tuổi hay lên tiếng đòi hỏi nhà cầm quyền tôn trọng pháp luật, vì quan niệm tôn giáo không thể đứng bên lề cuộc chiến đấu cho công lý.

3- Chúng tôi thực tâm lo lắng khi nghe tin tại quận thương mại Mongkok vừa mới nổ ra những cuộc phá phách, gây hấn, hành hung do nhiều nhóm người lạ mặt gây ra đối với các bạn sinh viên và người dân Hồng Kông vốn đã luôn biểu tình hết sức ôn hòa và trật tự trong hai tuần rồi. Công luận cho rằng những thành phần côn đồ dùng bạo lực để gây rối, phá hoại và làm mất ý nghĩa cuộc biểu tình là do chính nhà cầm quyền Cộng sản từ Đại lục giật dây hoặc sai phái. Những ai từng xuống đường đấu tranh tại Việt Nam chúng tôi rất hiểu rõ điều này. Xin hoan nghênh các bạn trẻ Hồng Kông đã luôn tỉnh táo, không đáp lại bằng bạo lực mà chỉ trả đũa bằng cách ngưng đối thoại với nhà cầm quyền.

* * *

Xét vì hoàn cảnh đất nước Việt Nam chúng tôi còn thê thảm hơn Hồng Kông hiện thời và cuộc đấu tranh của chúng tôi còn gay gắt, khó khăn và gian khổ gấp bội, nên nhân đây chúng tôi cũng xin được ngỏ lời với đồng bào Việt Nam chúng tôi như sau:

1- Giới trẻ Việt Nam nói riêng và phong trào tranh đấu Việt Nam nói chung hãy biến niềm cảm hứng từ cuộc Cách mạng Dù tại Hồng Kông thành nỗ lực giúp nhau có ý thức dân chủ cao, tấm lòng can đảm lớn, tinh thần đoàn kết rộng rãi và thái độ nhập cuộc đông đảo để dấn thân biến đổi thực trạng phi dân chủ và mất nhân quyền còn tồi tệ gấp ngàn lần ở Hồng Kông. Phần các bậc phụ huynh, thầy giáo, chức sắc tại Việt Nam, xin hãy giúp khơi gợi ý thức tự do, truyền thụ tinh thần độc lập, giáo dục não trạng dân chủ cho thế hệ trẻ đang là con cái, học trò, tín hữu của mình, cũng như luôn hỗ trợ, bênh vực và đồng hành cùng các em trong những sáng kiến và hoạt động đòi lại những nhân quyền và dân quyền đã và đang bị nhà cầm quyền CSVN hoàn toàn tước đoạt.

2- Nhà cầm quyền CSVN không được làm âm vang tiếng nói của nhà cầm quyền Trung cộng vốn khẳng định “các vấn đề của Hồng Kông là vấn đề nội bộ của Trung Quốc”, các nước khác chớ can thiệp vào. Tuyên bố của bộ ngoại giao ngày 02-10 “khuyến cáo công dân Việt Nam không nên đến những khu vực có biểu tình để tránh xảy ra những tình huống phức tạp” và “hy vọng chính quyền Hồng Kông sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm sớm ổn định tình hình”, tuyên bố ấy là một động thái ủng hộ Trung cộng trong vấn đề Hồng Kông, tiếp tục làm vừa lòng quan thầy ở Trung Nam Hải, bộc lộ thái độ chư hầu và chính sách lệ thuộc nguy hiểm trong bang giao quốc tế. Ngoài ra, đó cũng là cuống cuồng lo sợ trước sự ủng hộ của nhân dân đối với cuộc biểu tình ôn hòa tại Hồng Kông, tuyệt vọng chặn đứng ngọn gió dân chủ đang thổi vào đại lục xuống tận miền đất Việt.

3- Toàn dân trong nước hãy noi gương tranh đấu của người dân, đặc biệt của giới trẻ tại các quốc gia Đông Âu cuối thế kỷ trước, của các quốc gia Bắc Phi và Ả Rập vùng Trung Đông gần đây, hiện thời là của người dân Ukraina, Tân Cương, Tây Tạng và lúc này là giới trẻ Hồng Kông trong tinh thần và khí phách của sinh viên Thiên An Môn. Các dân tộc ấy đã mạnh mẽ cho thế giới thấy họ nghĩ gì, muốn gì. Với truyền thống hào hùng và dòng máu bất khuất của nòi Lạc Việt, chúng ta hãy đồng lòng và can đảm quyết định thay đổi đường đi, thay đổi vận mệnh của quốc gia dân tộc. Bởi lẽ ngày càng hiển hiện nguy cơ mất nước do sự xâm lấn của ngoại thù Cộng sản Tàu và sự bạc nhược, đồng lõa của một bộ phận trọng yếu trong giới cầm quyền Cộng sản Việt.

Cuối cùng, chúng tôi cầu chúc cho cuộc biểu tình bất tuân dân sự của nhân dân, giới trẻ Hồng Kông đạt được các mục tiêu cao cả, đồng thời khơi dậy được tinh thần đấu tranh cho người dân ở Đại lục, để từ đó thêm sức mạnh cho phong trào tranh đấu tại Việt Nam.

Hỡi các bạn trẻ Hồng Kông, hãy là niềm hy vọng của thế giới!

Việt Nam ngày 05-10-2014

1- Bạch Đằng giang Foundation, Đại diện: Ths Phạm Bá Hải
2- Bauxite Việt Nam, Đại diện: Gs Phạm Xuân Yêm và Gs Nguyễn Huệ Chi
3- Diễn Đàn XHDS, Đại diện: Tiến sĩ Nguyễn Quang A
4- Khối Tự do Dân chủ 8406, Đại diện: Kỹ sư Đỗ Nam Hải
5- Giáo hội Cao Đài, Đại diện: CTS Nguyễn Bạch Phụng
6- Giáo hội Liên hữu Lutheran VN-HK. Đại diện: Ms Nguyễn Hoàng Hoa.
7- Giáo Hội PGHH Thuần túy, Đại diện: Hội trưởng Lê Quang Liêm
8- Giáo Hội Tin lành Mennonite độc lập, Đại diện: Ms Nguyễn Hồng Quang.
9- Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo VN, Đại diện: Kỹ sư Nguyễn Bắc Truyển
10- Hội Anh em Dân chủ, Đại diện: Ls Nguyễn Văn Đài.
11- Hội Bảo vệ quyền tự do tôn giáo, Đại diện: Cô Hà Thị Vân
12- Hội Bầu bí Tương thân, Đại diện: Ông Nguyễn Lê Hùng.
13- Hội Cựu tù nhân lương tâm, Đại diện: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế
14- Hội Nhà báo độc lập, Đại diện: Ts Phạm Chí Dũng
15- Hội Phụ nữ Nhân quyền, Đại diện: Cô Huỳnh Thục Vy.
16- Hội thánh Chuồng bò (Tin Lành), Đại diện: Ms Nguyễn Mạnh Hùng
17- Lao động Việt, Đại diện: Cô Đỗ Thị Minh Hạnh.
18- Mạng lưới Blogger Việt Nam, Đại diện: Cô Phạm Thanh Nghiên.
19- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền, Đại diện: Lm Phan Văn Lợi.
20- Phong trào Liên đới Dân oan tranh đấu VN, Đại diện: Bà Trần Ngọc Anh.
21- Tăng đoàn GHPGVNTN, Đại diện: Hòa thượng Thích Không Tánh
22- Văn phòng Công lý Hòa bình DCCT, Đại diện: Lm Đinh Hữu Thoại.

Nguồn: Dân Làm Báo

Trần Sơn - Thư trả lời 61 đảng viên lão thành

Trần Sơn
Tác giả gửi tới Dân Luận

Các bác kính mến, thú thực là em đã đọc kỹ thư kiến nghị của các bác trên trang Dân Luận, Với kiến nghị như thế này, thường trực ban bí thư TƯ ĐCS VN hay đại loại gì đấy, không bao giờ trả lới các bác đâu. Chẳng ai trả lời các bác cả. Em còn đây, các bác còn đấy, cứ chờ xem, em nói cấm có sai. Biết là chẳng bao giờ họ trả lời các bác, thì em mạo muội trả lời các bác vậy, để các bác khỏi mong thư hồi âm.

Thư các bác không dài, nhưng vấn đề không mới, ai cũng biết, 90 triệu dân VN biết tỏng lâu rồi, 16 ủy viên bộ CT cũng biết tỏng lâu rồi. Nhưng trả lời các bác làm sao đây. Các bác toàn kiến nghị khó, như dánh đó nhau.

Thôi, em trả lời các bác từng phần theo thứ tự từ trên xuống để phần nào các bác yên lòng.

Bản kiến nghị, tựu chung lại có 2 phần. Phần 1 là hiện tình đất nước. Phần 2 có 2 kiến nghị cụ thể. Em thử trả lời như sau, các bác xem sao:

1. Các bác bảo xây dựng đất nước theo con đường CNXH là sai lầm, 30 năm đổi mới chưa triệt để nên gây ra nhièu mặt lũng đoạn trong xã hội …. Cái này đích thân đồng chí TBT Trọng đã trả lời rồi. Đại ý là “đổi mới“ chỉ là một giai đoạn ngắn để tháo gỡ tình thế về kinh tế thôi. Còn nền tảng là chính trị không thể thay đổi được”. Điều này có nghĩa là, các bác liệu chừng, đến một ngày đẹp trời nào đó các bác cùng toàn đân vác hộ khẩu lên phường nhận tem phiếu theo tiêu chuẩn lương thực thực phẩm hàng tháng nhé. Chợ búa dẹp hết nhé, tất cả vào HTX nhé… Có vậy mới xây dựng CNXH được, chứ cứ như nền kinh tế thị trường bát nháo hiện nay thì 100 năm nữa chưa chác đẫ có ( Lời của TBT Trọng). Mà điều các bác phải nhớ, Hiên nay đồng chí TBT Trọng đang khao khát hàng ngày hàng giờ làm sao xây dựng CNXH trên đất nước ta thật mau. Kẻo 100 năm năm nữa bác ấy không kịp sống.

Các bác, 61 người ai cũng là đảng viên CS cả, thế mà các bác quên một điều căn bản sống còn: Nếu không vì mục tiêu xây dựng CNXH thì đảng CS tồn tại để làm gì? Xây được hay không được, không quan trọng. Cứ phải hô hào như vậy đã, để mà còn lý do tồn tại, lý do lãnh đạo. Chứ không nói như vậy để dân nó chửi cho là đồ ăn bám à. Bí lắm thì nói liều là sứ mệnh do dân tộc giao phó, do nhân dân lựa chọn

Các bác bảo thôi đừng theo Mac-Lê nữa, chảng hóa các bác muốn giải tán cái đảng này à? Cái này đồng chí Nguyễn MInh Triết đã nói rõ rồi “Hổng được đâu”… Thôi thì thế này, các bác làm gương trước đi: Trả lại thẻ Đảng, tự ý xin ra, như bác Đằng, anh Đức nghe còn thuyết phục hơn cái bản kiến nghị. Nói ngược lại, các bác còn là đảng viên CS thì các bác đừng khuyên từ bỏ chủ nghĩa Mac-Lê, nghe nó chối lắm. Làng nào chẳng thờ ông khai canh, nghề nào chẳng thờ ông tổ. Đến nghề làm… còn có nữa là.

2. Rồi các bảo đảng độc tài toàn trị, Thế chẳng nhẽ các bác muốn đa đảng à. Nếu muốn, các bác tự lập ra đảng mới đi. Pháp luật có cấm đâu. Khi nào an ninh CS bắt bớ các bác, các bác kiến nghị cũng chưa muộn kia mà. Còn quan điểm của đảng CS VN là không đa đảng. Cái này, cũng bác Triết nói rõ rồi “đa đảng là chết“ nói toạc ra, đa đảng dân không chết, mà đảng CSVN chết ngay, chết không kịp ngáp. Phải chăng các bác muốn như vậy? Em nghĩ các bác trên TƯ đảng không muốn như vậy. Nhìn Sadam bị treo cổ, Gradafi bị lôi ống cống là các bác ấy hãi lắm.

3. Rồi các bác bảo là kìm hãm tự do dân chủ chia rẽ dân tộc. Thế dân chủ, tự do là cái gì, mặt mũi nó ra sao? đã có bao giờ dân VN này được biết thế nào là tự do dân chủ đâu mà so sánh. Các bác nói vậy, em biết vậy, chứ bảo thế nào là tự do dân chủ thì em chịu, em chưa bao giờ qua Âu-Mỹ, em chưa biết. Em không dám đòi. Còn chia rẽ dân tộc thì các bác nói hơi mơ hồ. Trong nước thì khấu hiệu “Đoàn Kết, Kỷ Cương…” giăng đầy đường đấy, các bác không đọc à? Với bà con Việt kiều bác Triết có khúc ruột ngàn dặm của bác vắt qua tận bên Mỹ rồi. Các bác cũng không thấy sao? Rõ ràng chủ trương của đảng CSVN là không chia rẽ nhé. Chủ trương của đảng lâu nay là tập hợp thật đông quần chúng, càng đông càng tốt, một lòng theo đảng, đảng bảo gì nghe nấy, đừng ý kiến ý cò gì hêt. Còn lòng dân không theo là lỗi tại dân. Các bác nói thế là oan cho đảng ròi. Đảng không vui đâu.

4. Các bác bảo tham nhũng tràn lan, đất nước kiệt quệ, tụt hậu so với các nước trong khu vực. Cái này cũng đúng, ai cũng thấy. Nhưng bọn cán bộ địa phương các cấp, ban ngành đoàn thể, lương ba cọc ba đồng nó ăn gì để nó làm việc. Không tạo điều kiện cho nó chấm mút thì nó bỏ việc à? Lúc ấy các bác ra mà làm nhé. Có bọn nó mới có người phục vụ chế độ. Nói toạc ra, chế độ này còn tồn tại là nhờ bọn nó. Thằng nào làm cán bộ mà không ăn cắp là thằng đấy có nguy cơ chống phá đảng, không chóng thì chầy cũng bị các đồng chí “tận tụy phục vụ chế độ“ cho bật xới. Cho nên các bác muốn truy tìm, tố cáo tham nhũng, rất dễ. Các bác xem thằng nào luôn mồm hô to “Đảng cộng sản VN quang vinh muôn năm“ là thằng đấy tham nhũng nhiều nhất. Cái này bác Sang gọi là bầy sâu. Cứ xem thằng nào to mồm ca ngợi đảng CSVN, thằng đó là chính loại sâu bự.

Như vậy phần tình hình chung em đã nói ró chân lý từng điểm cho các bác rồi nhé. Giờ đến phần 2, kiến nghị. Em cũng nói ngắn thôi:

5. Các bác kiến nghị chuyển đổi mô hình chính trị từ toàn trị sang mô hình dân chủ. Vậy cái mô hình ấy nó như thế nào. Sao các bác không đính kèm bản kiến nghị ấy một bản luận cương, xem nó cụ thể nó ra sao. Chứ các bác nói dân chủ chung chung ấy thì bố ông TBT cũng không sao mà hình dung ra được. Còn về dân chủ thì chị Doan thay mặt đảng và nhà nước cũng đã khẳng định rồi “nước ta có nền dân chủ gấp ngàn lần các nước tư bản chủ nghĩa“. Vậy thì các bác còn đòi dân chủ như thế nào nữa. Rõ là các bác được voi đòi tiên.

6. Nền kinh tế phụ thuộc vào Trung Quốc thì đúng rồi. Nhưng bảo không phụ thuộc vào nó thì mua bán với ai. Đồ của nó rẻ, toàn dân ai dùng cũng được. Cho nó trúng thầu thì phần lại quả lớn hơn bọn Nhật, lại đảm bảo không bị tố. Làm ăn với nó kiểu gì nó cũng mời qua TQ vài lần, ăn chơi không bị dòm ngó. Vậy thì các bác bảo nên chọn ai. Cho bọn trong nước trúng thầu thì vừa đắt, vừa làm ẩu. ăn xong còn bị nó tố ngược mới oan gia làm sao. Thôi tạm thời cứ chơi với nó vài chục năm nữa đã, cho lành.

7. Lâu nay chọn đại biểu đại hội đảng toàn quốc, thì cũng bầu từ cơ sở lên đấy thôi. Chứ bộ CT, ban chấp hành TƯ công đâu mà đi chọn cả nghìn đại biểu. Toàn là dưới cơ sở nó bầu lên đấy chứ. Nó phe cánh o bế cho nhau thì các bác phải chỉ ra nó không xứng đáng như thế nào chứ. Bây giờ mà hỏi 10 thằng thì cả 11 thằng nó bảo nó yêu nước đấy chứ, có thằng nào không yêu nước đâu. Nhưng yêu nước chung chung thì cũng chưa được, phải kèm thêm yêu đảng, yêu chế độ nữa, cái này thì bọn ấy có thừa tình yêu. Vì đảng là suối nguồn tươi trẻ của nó mà.

8. Bầu đại biểu Quốc hội cũng vậy, toàn là dân bầu lên chứ ai. Dân đi bầu là dân ngu thì các bác chịu, chứ biết kêu ai bây giờ. Em nhớ không nhầm, gần đây có vị đại biểu quốc hội thẳng thừng tuyên bố “quốc hội là của dân, quốc hội sai thì dân chịu“ (đảng vô can). Thế thì các bác còn thắc mắc gì nữa. Hay thôi, biết là cái đám đại biểu quốc hội toàn bọn ăn hại đái nát, lần sau có tổ chức bầu cử, các bác ở mỗi địa phương của mình vận động nhân dân đừng đi bầu nữa có được không. Các bác có làm được điều này không?

9. À còn cái chuyện biểu tình yêu nước nữa, “cái ni là mệ không ưng mô“. Nói thật với các bác, chế độ nào, chứ chế độ CS sợ biểu tình lắm. Từ biểu tình đến sụp đổ chế độ chỉ cách nhau một gang tay. Đi nhanh hơn ung thư giai đoạn cuối. Nên ở chế độ CS là không có biểu tình. Mít tinh ủng hộ thì được. Đại loại như mít tinh ủng hộ Putin chiếm trọn bán đảo Crưm thì OK. Hay mít tinh chaò mừng quân đội ly khai Ucraina vừa bắn hạ một chiếc máy bay của bọn Malaysia thì đảng cho tổ chức liền.

10. Còn tù nhân chính trị nữa, nói gọn, đấy là con bài dự trữ để đối ngoại. Thả làm sao được, Có thả 1 thì bắt 10. Bọn Âu Mỹ nó yêu sách đủ điều. Bây giờ mà không lưu trữ vài chục tù nhân chính trị thì nó đòi hỏi nhiều điều mệt hơn. Nào là bầu cử tự do, nào là đa đảng, nào là công đoàn độc lập… Tù nhân chính trị là thứ dễ mặc cả nhất với phương tây. Khi nào cảm thấy có lợi (hoặc bất lợi quá) thì ta thả vài thằng, nom xem kho hơi cạn thì ta đi bắt dự trữ vài thằng nữa. Các bác thông cảm, đây là cái vốn lận lưng của đảng.
...
Thôi các bác ạ, cái dám dân đen nước mình vốn dĩ nghèo khổ, thất học, cả tin, chỉ vì nghe theo Việt Minh mà đến nông nỗi này. Chả trách đám dân đen, cỡ Trần Đức Thảo còn bị lừa nữa là.
Trả lời các bác như thế có lẽ tạm đủ rồi. Hy vọng các bác không thắc mắc nữa. Để kết thúc, em hầu các bác một bài thơ em vừa làm, để các bác thư giãn. Tên bài thơ là:
CÂY ĐA Ở CỔ LOA
Ở Cổ Loa.
Có một cây đa,
Ngót một ngàn năm tuổi.
Năm 939 Đức Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán.
Chấm dứt Bắc thuộc ngàn năm.
Ngài về lại Cổ Loa,
Trồng một cây đa,
Phục dựng vương triều cũ.
Nhưng than ôi!
Năm 90 thế kỷ 20.
Triều đại nhà Hồ,
Qua Thành Đô khấu đầu cúi lạy.
Cây đa chết.
Một ngàn năm Bắc thuộc bắt đầu.

Bài thơ có dở các bác đừng cười nhé.
Trần Sơn

Những thành công trong chuyến thăm Mỹ của ông Phạm Quang Nghị

Đăng bởi Anh vào Thứ Bảy

Phạm Quang Tuấn

Nhiều người đã đặt câu hỏi: Ông Phạm Quang Nghị thăm Mỹ để làm gì? Có thành công không? Người ta cũng chú ý đến món quà lạ lùng mà ông Nghị "tặng" cho Thượng nghị sĩ John McCain, món quà chỉ có thể coi là một sự hạ nhục [1]: hai tấm ảnh chụp bia kỷ niệm chỗ bắn rơi máy bay của McCain, bia khắc ông McCain đang quỳ gối giơ tay đầu hàng và có dòng chữ "NGÀY 26 10 1967 TẠI HỒ TRÚC BẠCH QUÂN VÀ DÂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI BẮT SỐNG TÊN JOHN SNEY MA CAN THIẾU TÁ KHÔNG QUÂN MỸ LÁI CHIẾC MÁY A4 BỊ BẮN RƠI TẠI NHÀ MÁY ĐIỆN YÊN PHÚ. ĐÂY LÀ MỘT TRONG 12 CHIẾC MÁY BAY BỊ BẮN RƠI CÙNG NGÀY".

clip_image002 clip_image004

Bia kỷ niệm bắn rơi máy bay của John McCain

Đối với một người bình thường ở một nước văn minh, thì chỉ cái giọng kém học thức, gọi kẻ địch là "tên", và đánh vần sai be bét cũng đủ khiến phải giấu tấm bia đó đi, đừng nói là chụp ảnh nó rồi đưa cho người trong cuộc, mà nay đã thành Thượng nghị sĩ của một siêu cường. Có bao giờ một lãnh đạo Việt Nam dám đưa một tấm ảnh chụp bia kỷ niệm một tướng Tàu trong tình trạng tương tự cho đương sự? À, có bia đâu mà chụp, Việt Nam đời nào dám tạc bia kỷ niệm chiến tranh với Tàu cộng.

Tuy nhiên chuyện tặng quà này rất dễ hiểu nếu ta đọc một phát ngôn khác của ông Phạm Quang Nghị trong chuyến đi [2]:

"Ông Phạm Quang Nghị chân thành cảm ơn các bạn bè cánh tả và nhân dân Mỹ đã kiên trì ủng hộ và giúp đỡ cách mạng và nhân dân ta trong những năm tháng đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay".

Rõ ràng là, với tuyên bố này cũng như với "món quà" cho TNS McCain, ông Phạm Quang Nghị muốn nhắc cho Chính phủ Mỹ nhớ lại thời kỳ thù địch giữa hai nước. Ông không nhắc lại thời đó với giọng điệu của một cựu chiến binh đã thoát khỏi hận thù và hướng về tương lai, như ông McCain khi thăm Việt Nam, mà nhắc lại với những lời lẽ và hành động xỏ xiên, châm chọc.

Trong khi đó, khi nói về cuộc tranh chấp biển đảo với Tàu thì...

"Đặc biệt là cuộc gặp gỡ, trao đổi với các đại biểu từ nhiều cơ quan, tổ chức Mỹ do Hội châu Á tổ chức, ông Phạm Quang Nghị đã điểm lại tình hình diễn biến ở Biển Đông trong thời gian qua, nêu bật quyết tâm, chủ trương, biện pháp đấu tranh đúng đắn, sáng suốt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ngoại giao hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, đồng thời hết sức coi trọng, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; giữ gìn và củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển với các nước, trước hết là các nước láng giềng".

Tức là: Chúng tôi vẫn tiếp tục chung thủy, bốn tốt, 16 chữ vàng với ông anh của chúng tôi, các ông (Mỹ) đừng hòng mà xen vào.

Những việc chính thức đã làm với chính phủ Mỹ thì gói gọn trong vài câu rỗng tuếch, sặc mùi Tuyên giáo: "Trao đổi làm việc", "Trao đổi về những vấn đề hai bên cùng quan tâm", "Các cuộc gặp, làm việc diễn ra trong bầu không khí cởi mở, xây dựng, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau"[2].

Tới đây thì chúng ta có thể trả lời câu hỏi về mục đích chuyến thăm Mỹ của ông Phạm Quang Nghị: thứ nhất, là để trấn an và gián tiếp xin lỗi người anh cả phương Bắc sau vụ giàn khoan HY981, cho ông ta vững lòng rằng "thằng nhỏ" vẫn trung thành, không nghĩ tới chuyện đi tìm đồng minh khác. Thứ hai, là để làm sao cho Mỹ từ bỏ ý định xáp lại gần Việt Nam, thậm chí còn bực mình tránh xa "thằng nhỏ" vô ơn mà mình đã lên tiếng ủng hộ trong những ngày nó bị anh nó bắt nạt.

Chúng ta cũng hiểu tại sao Ngoại trưởng Phạm Bình Minh được Mỹ mời mà không đi, lại đi... Ba Lan trong thời gian đó. Phạm Bình Minh là người đã từng làm ngoại giao ở Anh, Mỹ và Liên Hiệp Quốc, lại là con cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, người có khuynh hướng thân Tây phương và nghi kỵ Tàu (ít ra là đối với Đảng Cộng sản Việt Nam) và nghe nói đã bị Trung Quốc đẩy ra khỏi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Hẳn ông ta không thể được Tàu tin cậy bằng Phạm Quang Nghị, một apparatchik thuần túy, thành viên lâu năm và cựu Phó Trưởng ban của Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương (Ban Tuyên giáo Trung ương hiện thời), nơi tập hợp những cái đầu thủ cựu, hẹp hòi, maoist, thân Tàu nhất trong Đảng. Chỉ việc thay đổi sứ giả cũng đã cho thấy mục đích của chuyến đi. Rất có thể, đây là giá mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải trả để đổi lại việc giàn khoan HY981 nhổ neo sớm một tháng.

Về câu hỏi "chuyến đi có thành công không", tôi nghĩ rằng có lẽ đã thành công đối với mục đích thứ nhất (trấn an người anh cả, thậm chí làm cho ngài hể hả). Về mục đích thứ hai (chọc giận và đẩy Mỹ ra) thì chưa chắc, vì những hành động và lời nói của ông Phạm Quang Nghị quá con nít và lộ liễu – nhưng chắc chắn không thể nói là chuyến đi đã giúp xúc tiến quan hệ Việt Mỹ.

Còn một mục đích nữa có thể nằm trong đầu ông Phạm Quang Nghị – đó là cái ghế Tổng Bí thư biết đâu có thể tới với ông trong tương lai, nhờ sự nâng đỡ của đàn anh Tàu đang hồ hởi với chuyến đi này. Chuyến đi sẽ giúp nhiều cho chuyện đó. Hơn nữa, chức Tổng Bí thư phải cho một người có tầm cỡ trí tuệ tương đương như ngài đương kim Tổng Bí thư kiêm Giáo sư Nguyễn Phú Trọng, mà tiêu chuẩn đó thì ông Phạm Quang Nghị rất vừa vặn.

P.Q.T.

Ghi chú

[1] http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/189997/mon-qua-ong-pham-quang-nghi-tang-tns-mccain.html.

[2] http://dantri.com.vn/chinh-tri/ong-pham-quang-nghi-ket-thuc-chuyen-tham-lam-viec-tai-new-york-907206.htm

Tác giả gửi BVN.

Pháp quyền dưới góc nhìn từ chính sách phát triển

Đăng bởi Anh vào Thứ Năm


Một trong những thuật ngữ được quan tâm nhất trong việc xây dựng và phát triển chính sách là “pháp quyền” [thượng tôn pháp luật], còn được biết với những cái tên gọi khác như “rule of law” trong tiếng Anh, “etat de droit” trong tiếng Pháp, “estado de derecho” trong tiếng Tây Ban Nha và “rechsstaat” trong tiếng Đức. Sự tăng trưởng kinh tế, quá trình hiện đại hóa chính trị, bảo vệ nhân quyền, và nhiều vấn đề quan trọng khác không ít thì nhiều đều được xây dựng trên nền tảng của “pháp quyền”. Do đó những nhà hoạch định chính sách ở những nước đang phát triển hoặc vẫn còn trong thời kỳ quá độ đang tìm kiếm phương pháp để thiết lập hoặc là củng cố pháp quyền ở đất nước của họ. Các dịch vụ đánh giá chỉ số đầu tư, các tổ chức phi chính phủ, và những nghiên cứu sinh trong các ngành phát triển nói chung đang tìm cách xây dựng khung chỉ số để đo đạc mức độ hiệu quả của pháp quyền ở mỗi quốc gia.

Nhưng khi xem xét kỹ càng các cuộc đối thoại về pháp quyền thì chúng ta nhận ra một điều là thuật ngữ này không có một khái niệm cụ thể. Ý tưởng đầu tiên về pháp quyền xuất hiện trong những bài viết chỉ ra quy tắc trong luật pháp và chính phủ, chủ yếu là bởi những tác giả phương Tây, và định nghĩa của pháp quyền bị nhào nặn sao cho phù hợp với ý tưởng về tính lý tưởng hay sự công bằng của tác giả đó. Do đó, một khảo sát nhằm tìm hiểu cách thuật ngữ này đã và đang được dùng ở Đức, Pháp, Anh và Mỹ như thế nào đã đi tới kết luận rằng “pháp quyền thuộc vào một khái niệm mở và tranh luận về nó sẽ còn kéo dài cho tới vô tận”.

Dù cho có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng mỗi khái niệm có thể được phân loại phụ thuộc vào điều nó nhấn mạnh là “những đặc điểm về hình thức (formal characteristics), nội hàm những mục tiêu mà pháp quyền mang lại (substantive outcomes), hay các cân nhắc về chức năng của pháp quyền (functional considerations)”. Sự khác nhau giữa ba khái niệm này và mối liên hệ của chúng tới nỗ lực xây dựng, đánh giá và củng cố pháp quyền được mô tả ở dưới đây.

ĐỊNH NGHĨA VỀ MẶT HÌNH THỨC

Những định nghĩa về mặt hình thức của nền pháp quyền xem xét sự vắng mặt hay hiện diện của những tiêu chí cụ thể và phải có tính quan sát được của pháp luật hoặc của hệ thống pháp luật. Những tiêu chí thông thường gồm có: một bộ máy tư pháp hoàn chỉnh và độc lập, ít nhất là về mặt hình thức; luật pháp được công bố công khai; không có bộ luật nào được làm ra để nhằm vào một nhóm người hay tầng lớp xã hội nào đó; không có luật hồi tố – tức có hiệu lực đối với những sự việc xảy ra trước khi luật đó được ban hành; và có cơ chế để tòa án kiểm tra tính hợp hiến của các hành vi của chính phủ. Không có một danh sách đầy đủ nào về những tiêu chí hình thức này, và những định nghĩa khác nhau về hình thức của pháp quyền có thể sử dụng những tiêu chí khác nhau. Điểm chung của các định nghĩa hình thức này là “pháp quyền” được đánh giá căn cứ vào việc hệ thống luật pháp có tuân thủ hay không các tiêu chuẩn đã nói ở trên.

Ưu điểm chính của định nghĩa của pháp quyền hình thức là nó rất rõ ràng, và tương đối khách quan một khi những tiêu chí hình thức được chọn. Chọn lựa ra các tiêu chí này có thể gây nhiều tranh cãi, nhưng một khi đã có và được quy định một cách hiển ngôn thì không khó để xác định mức độ một hệ thống luật pháp có tuân thủ theo đúng các quy định đó hay không. Các định nghĩa về hình thức do đó tránh được những phán xét chủ quan, ví dụ như việc nhận định nội dung một bộ luật có công bằng hay không.

Tuy nhiên, các định nghĩa chỉ tập trung vào hình thức của nền pháp quyền có hai nhược điểm. Thứ nhất, phụ thuộc quá nhiều vào “luật ghi trên giấy” và không để ý đủ tới “luật khi thực thi”. Những quyết định của tòa án được ban hành không phải lúc nào cũng, nếu không muốn nói là không thường xuyên, kết nối được với sự vận hành thực sự của hệ thống pháp lý. Do đó, tính khách quan của chúng trong khi đưa ra nhận định có thể bị đánh đổi bởi cái giá của sự chính xác. Thứ hai, những tiêu chí hình thức này được chọn bởi vì có một giả định theo chủ nghĩa kinh nghiệm (thường thì không phát biểu hiển ngôn được) rằng những đặc trưng về thủ tục đó sẽ dẫn tới một số hệ quả về mặt nội dung hay chức năng của luật pháp (Fuller 1964). Quả thực, không có cách nào khác để lựa chọn các chỉ tiêu về thủ tục (nếu như đã không ngầm định về một mục tiêu nhất định về nội dung hay chức năng của luật pháp).

Nhưng ngay cả khi điều đó là sự thực, nó chỉ cho chúng ta thấy rằng định nghĩa hình thức còn thiếu sót. Điều mà chúng ta thực sự nên quan tâm là bản chất của pháp quyền, và đó chính là kết quả về mặt nội dung hay chức năng mà pháp quyền đem lại. Liệu những đặc điểm về mặt hình thức, thủ tục có đóng góp hay không vào việc đạt được những mục tiêu đó nên được nghiên cứu cụ thể, không thể chỉ đơn thuần ngầm định một cách chủ quan. Điều này cho thấy tính “khách quan” của những tiêu chuẩn hình thức này có thể là viển vông, bởi chúng được lựa chọn thông qua những mặc định chủ quan (có khi là thiên vị về mặt văn hóa) về tác động thực sự của các bộ luật khi thực thi pháp luật.

ĐỊNH NGHĨA VỀ MẶT NỘI DUNG

Một phương án thay thế cho cách tiếp cận hình thức đối với pháp quyền đó là bằng cách chú trọng vào những kết quả về mặt nội dung (mà pháp quyền có thể mang lại) như “công lý” hay “công bằng”. Cách tiếp cận này không quan tâm tới những điều luật chính thức, trừ khi chúng đóng góp vào thành tựu của một mục tiêu nội hàm cụ thể nào đó của hệ thống pháp luật. Khác với cách tiếp cận về mặt thủ tục và hình thức – vốn không hề đả động gì tới tính đúng sai – cách tiếp cận về mặt nội dung được định hướng bởi tầm nhìn mang tính đạo đức của một hệ thống pháp lý tốt, và việc đánh giá hệ thống pháp luật sử dụng pháp quyền theo kiểu này được dựa trên việc hệ thống này đạt tới độ lý tưởng ở mức nào (Dworkin 1985).

Ưu điểm chính của định nghĩa pháp quyền này là có thể đặt được câu hỏi một cách hiển ngôn để so sánh pháp quyền với một cái gì đó thông thường được xem là tốt và ai cũng muốn. Pháp quyền được xem là tốt theo cách này bởi vì nó được định nghĩa như thế. Điều này khá hấp dẫn, đầu tiên là vì những quyết định chủ quan được đưa ra một cách rõ ràng, không mập mờ, thay vì bị ẩn đi sau các tiêu chí hình thức, và thứ hai là vì cụm từ “pháp quyền” sẽ mang ý nghĩa rất tích cực. Nhiều người không thể chấp nhận bất cứ một định nghĩa nào mà cho phép, dù chỉ là trong lý thuyết, một chế độ áp bức hoặc bất công sở hữu được pháp quyền.

Tuy vậy, mối liên hệ rành mạch này giữa pháp quyền với một vài khái niệm mang nội hàm tốt đẹp cũng có một vài nhược điểm. Đầu tiên và dễ thấy nhất là việc xác định tính công bằng của một phán xét nào đó đòi hỏi một quyết định chủ quan và thường cực kỳ phức tạp. Thứ hai, định nghĩa pháp quyền là một hệ thống pháp luật tốt dễ làm cho khái niệm đó trở nên không rõ ràng và dẫn đến không có tính thực tế nhiều. Tại sao chúng ta lại mất công bàn bạc về một xã hội có hay không có pháp quyền khi mà điều chúng ta đang thực sự muốn hỏi là cái xã hội mình sống có tốt hay là không? Thứ ba, sẽ rất khó để thiết lập mối quan hệ giữa luật pháp và những thành tựu xã hội đạt được trong cách định nghĩa pháp quyền này. Hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp có một xã hội sống dưới một hệ thống pháp luật tồi hoặc là không hề có bất cứ một hệ thống luật pháp nào, nhưng vẫn đạt được sự công bằng thực chất nếu xét theo những tiêu chí chuẩn mực đã được chọn. Mặt khác, chúng ta có thể hình dung một xã hội với những bộ luật và những cơ quan hành pháp hoàn hảo theo đúng chuẩn mực đã định, nhưng nơi đó luật pháp lại không được xem trọng, không ảnh hưởng gì tới đời sống xã hội, và ở nơi đó những hành vi xấu xảy ra một cách thường xuyên. Vậy loại xã hội nào có nhiều pháp quyền hơn nếu xét theo lăng kính nội hàm? Luật pháp cần phải tốt hay là những thành quả xã hội đạt được cần phải tốt? Nếu như là luật pháp cần phải tốt thì pháp quyền theo định nghĩa hình thức chẳng phải thỏa mãn hay sao? Nếu những kết quả cho xã hội mới là cái cần làm cho tốt, thì việc gì phải tốn thời gian bàn bạc về luật pháp nữa?

ĐỊNH NGHĨA THEO CHỨC NĂNG

Hướng tiếp cận thứ ba đối với pháp quyền tương tự như định nghĩa theo nội dung, nhưng cố gắng tránh những vấn đề chuẩn mực, vốn khó xác định, bằng cách tập trung vào hiệu quả của luật pháp và hệ thống pháp lý khi thực thi một số chức năng như: hạn chế sự lộng hành của chính phủ, dễ dàng phán đoán các quyết định pháp lý, hoặc một sự kết hợp của cả hai chức năng trên (Hayek 1960). Một ví dụ của cách nhìn này là: một xã hội mà nơi đó nhân viên chính phủ có rất ít hoặc không có chút quyền nào để lộng hành thì có chỉ số pháp quyền cao, còn một xã hội mà chính quyền chuyên chế thì nơi đó có chỉ số pháp quyền thấp nhất.

Định nghĩa pháp quyền theo chức năng đồng nhất rộng rãi với ý nghĩa truyền thống của cụm từ trong tiếng Anh (rule of law) và thường được mang ra để so sánh với “rule of man” – tức “nhân trị”. Nó cũng có một ưu điểm và định nghĩa pháp quyền theo những tiêu chí liên quan tới kết quả, nhưng không đòi hỏi những phán quyết mang tính đạo đức về các kết quả được mong đợi đó. Định nghĩa theo chức năng đủ hẹp tới mức nó không chồng chéo lên những khái niệm tổng quát, và nó làm cho những câu hỏi liên quan tới mối quan hệ giữa những đặc điểm hình thức và pháp quyền, và giữa pháp quyền đối với những mục tiêu về kết quả, có thể nghiên cứu được chứ không phải chỉ đơn thuần là một cái vòng luẩn quẩn.

Tuy nhiên, định nghĩa theo chức năng cũng gặp phải một số khó khăn. Thứ nhất, cũng giống như với định nghĩa về nội dung, mối quan hệ giữa bản thân hệ thống pháp luật với mục tiêu mang tính chức năng có thể gây ra những vấn đề. Có thể giới hạn các nhân viên chính quyền hoặc phán đoán được các quyết định pháp luật bằng những phương cách không liên quan đến hệ thống pháp luật. Giả sử, có thể trong một xã hội nào đó công chức có ít quyền tùy nghi ra quyết định hơn so với nước láng giềng dù cho nước láng giềng này có nhiều điều luật hạn chế quyền quyết định của công chức hơn. Vậy đất nước nào có nền pháp quyền tốt hơn căn cứ theo định nghĩa theo chức năng? Một vấn đề khác là việc xem xét “khả năng dự đoán pháp luật” hoặc là “hạn chế sự lộng hành của nhân viên nhà nước” hay bất cứ một chức năng nào khác có thể làm cho việc đưa ra bất cứ một tuyên bố cuối cùng về mức độ pháp quyền của một xã hội đó trở nên khó khăn. Các nhân viên chính phủ có thể phải đưa ra hàng ngàn quyết định mỗi ngày. Một vài trong số họ có thể bị hạn chế ở mức cao, trong khi đó một số khác thì không. Việc tổng hợp các mức độ chuyên quyền của mỗi nhân viên trong khi đưa ra mỗi kiểu quyết định để cho ra mức độ tổng quát của pháp trị là không rõ ràng một chút nào.

Một ý phụ nữa mà định nghĩa theo chức năng minh họa mạnh mẽ nhất đó là mặc cho những lời hùng biện đương đại, không có một nguyên nhân suy diễn nào để tin rằng pháp quyền (dù là định nghĩa theo chức năng hay hình thức) luôn luôn nhất thiết phải là một điều tốt. Ví dụ về việc công chức nhà nước có quyền tùy nghi quyết định chẳng hạn. Công chức có thể tùy nghi ra quyết định thì thường là một điều tệ và khi đó chúng ta gọi hành động này là “lộng hành”. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác thì sự tùy nghi đó lại có thể là một điều tốt mà chúng ta thường vẫn hay gọi là “linh động”. Nhưng tính linh động hay lộng hành có thể đơn giản chỉ là hai mặt của cùng một đồng xu. Quyền tùy nghi quyết định được dùng vì mục đích tốt hay xấu lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Trong khi vẫn thường được xem là một điều tốt, pháp quyền thỉnh thoảng có thể mang lại nhiều vấn đề. (Điểm này tất nhiên không áp dụng với định nghĩa về nội dung bởi vì theo định nghĩa đó, pháp quyền luôn là tốt.)

Kết luận

Những người hoạch định chính sách cần phải làm rõ việc họ định nghĩa pháp quyền như thế nào bởi vì những đáp án cho rất nhiều câu hỏi mà họ quan tâm như: liệu pháp quyền có thúc đẩy sự phát triển kinh tế, hoặc là liệu nền dân chủ có phải là điều kiện tiên quyết nhất định phải có đối với pháp quyền hay không, và nhiều câu hỏi khác nữa, phụ thuộc rất nhiều vào định nghĩa nào về pháp quyền đang được dùng. Hơn nữa, sự đa dạng trong khái niệm pháp quyền rất có thể tạo nên sự mập mờ và hiểu nhầm giữa những nhà tài trợ và nước nhận viện trợ, hoặc thậm chí ngay giữa những thành viên của cùng một cộng đồng.

Có lẽ điểm quan trọng nhất cho các nhà phân tích phát triển, các nhà hoạch định chính sách, và cộng đồng các nhà tài trợ nói chung cần ghi nhớ đó là pháp quyền có nhiều khái niệm khác nhau. Tất cả những khái niệm này đều có vấn đề, và loại nào phù hợp sẽ phụ thuộc vào nhiệm vụ mà nó phải giải quyết. Nhưng ưu điểm cũng như nhược điểm của những khái niệm khác nhau này và quan trọng hơn là sự khác nhau giữa những định nghĩa này thì cần phải luôn được ghi nhớ. Quả thực, xét cho cùng thì có lẽ sẽ tốt hơn nếu những nhà tài trợ và hoạch định chính sách có thể tránh những hùng biện mơ hồ về pháp quyền và đặt ra những mục tiêu cải cách cụ thể hơn.
Lê Duy chuyển ngữ
Nguồn dịch: Tạp chí Phía Trước
Theo Book Hunter Club

Đỗ Thị Minh Hạnh: Không cho phép mình được nghỉ ngơi

Đỗ Thị Minh Hạnh - ...Tuy mới ra tù được ít hôm, tôi được biết thêm là Tổ Quốc Việt Nam đang lâm nguy, Trung Quốc đã lộ quá rõ dã tâm thôn tính Việt Nam. Từ người công nhân lao động cho đến các bậc trí thức, các doanh nhân, kể cả những đảng viên cộng sản... đang đứng trước nguy cơ mất nước, Dân tộc chúng ta đứng trước họa trở thành nô lệ của giặc Tàu.



Tôi quá đỗi đau lòng và khát khao mong được góp một chút tinh thần nhỏ bé để đứng chung cùng quý ông bà, quý cô bác và các anh chị em đấu tranh giữ gìn từng tấc đất của quê hương mình...
*

Kính gửi:

- Các vị dân biểu, đại diện các cơ quan ngoại giao và chính phủ các nước yêu chuộng tự do nhân quyền
- Các cơ quan truyền thông, các tổ chức, cá nhân ở trong lẫn ngoài ngước
Kính thưa quý ông bà, cô bác, anh chị và quý bạn bè gần xa,

Tôi là Đỗ Thị Minh Hạnh, người vừa ra tù trước thời hạn hồi cuối tháng 6 vừa qua. Sau hơn 4 năm 4 tháng bị giam cầm, tôi luôn cảm thấy hạnh phúc vì đã nhận được rất nhiều sự yêu thương và ủng hộ của quý vị.

So với những người bạn thân thiết như các bạn Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, cô Mai Thị Dung và hàng trăm tù nhân lương tâm khác tại Việt Nam, tôi luôn cảm thấy mình thật may mắn. Chính vì điều này mà tôi chưa bao giờ cho phép bản thân mình được nghỉ ngơi.

Qua bức thư này, tôi xin được gửi lời cám ơn chân thành từ trái tim đến tất cả các cá nhân và tổ chức đã luôn đồng hành cùng gia đình tôi trong nỗ lực đấu tranh đòi trả tự do cho tất các tù nhân lương tâm tại Việt Nam, và nhờ quý vị mà tôi được rời khỏi nhà tù sớm hơn hạn định.

Trong thời gian ở tù, dù phải chịu cảnh bị đánh đập, bị làm nhục, bị biệt giam..., tôi vẫn luôn tin tưởng và khẳng định rằng tôi không có tội. Tương tự, các bạn Hùng, Chương và hàng trăm tù nhân lương tâm khác cũng hoàn toàn vô tội.

Tôi luôn xác quyết niềm tin và hành động của mình là vì công nhân, vì người nghèo, vì đất nước, vì tương lai Dân Tộc, vì lãnh thổ quê hương.

Sự ủng hộ của những người yêu nước khắp nơi - cả trong lẫn ngoài nước đã trở thành ngọn lửa giúp tôi có thêm nghị lực vượt qua mọi thử thách vô cùng khắc nghiệt trong nhà tù.

Tuy mới ra tù được ít hôm, tôi được biết thêm là Tổ Quốc Việt Nam đang lâm nguy, Trung Quốc đã lộ quá rõ dã tâm thôn tính Việt Nam. Từ người công nhân lao động cho đến các bậc trí thức, các doanh nhân, kể cả những đảng viên cộng sản... đang đứng trước nguy cơ mất nước, Dân tộc chúng ta đứng trước họa trở thành nô lệ của giặc Tàu.

Tôi quá đỗi đau lòng và khát khao mong được góp một chút tinh thần nhỏ bé để đứng chung cùng quý ông bà, quý cô bác và các anh chị em đấu tranh giữ gìn từng tấc đất của quê hương mình.

Đồng thời, tôi vẫn mong muốn được tiếp tục đóng góp sức lực nhỏ bé của mình để cùng quý vị tranh đấu đòi trả tự do tất cả các tù nhân lương tâm còn đang bị giam giữ như: Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, nhà báoTạ Phong Tần, Luật sư Lê Quốc Quân, tín đồ PGHH Mai Thị Dung, tín đồ PGHH Nguyễn Văn Lía, cô Bùi Thị Minh Hằng, doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức, Nhà báo Nguyễn Xuân Nghĩa, nhạc sĩ Việt Khang, nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình, cô Hồ Thị Bích Khương, chị Lê Thị Phương Anh, cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, chú Nguyễn Văn Minh v.v,...

Cũng qua bức thư này, tôi tha thiết kêu gọi dư luận cùng lên tiếng yêu cầu chính phủ Việt Nam cần phải trả tự do ngay lập tức cho chị Mai Thị Dung. Hiện nay, bệnh tình chị Dung đang hết sức nguy kịch, phải chịu đựng sự đau đớn của thể xác từng giây, từng phút và cần mau chóng được tự do để điều trị kịp thời.

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn và gửi lời tri ân đến tất cả quý vị đã luôn hỗ trợ cuộc đấu tranh đòi tự do, nhân quyền cho Việt Nam.

Kính thư,
Đỗ Thị Minh Hạnh

Theo Dân Làm Báo

TẬP CẬN BÌNH SẼ ĐƯA CHINA VỀ ĐÂU?


Hoàng Mai

Khác với các nước phi cộng sản, có nền dân chủ đa đảng, cuộc bầu chọn lãnh đạo đất nước thường minh bạch, là sự cạnh tranh không chỉ trong nội bộ mỗi đảng, mà còn là sự cạnh tranh giữa các chính đảng cũng như các cá nhân độc lập tham gia ứng cử, và được nhân dân bầu cử một cách minh bạch… Thì các đảng cộng sản, khi cần người đứng đầu của đảng, thường là do vài cá nhân có vai vế chỉ định, và người được chỉ định thuộc loại “con ông cháu cha”, và Tập Cận Bình ở China cũng thuộc số này. Dân China gọi là tầng lớp “thái tử đảng”.
Ngày 15 tháng 11 năm 2012, tại Đại hội lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản China, đã bầu Tập Cận Bình làm Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản China, Chủ tịch Quân ủy Trung ương China.

Ngày 14 tháng 3 năm 2013, Tập Cận Bình được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân China, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực ở China.

Theo dõi quá trình lãnh đạo của Tập Cận Bình trong gần hai năm qua, ta thấy:

- Đây là con người có tham vọng chính trị rất lớn, khẩu hiệu của ông ta ngay sau khi được bầu là TBT là “phục hưng Trung Hoa”, hay “giấc mơ Trung Hoa”. Có thể đoán, Tập muốn để lại dấu ấn cá nhân trong lịch sử China chỉ sau Mao Trạch Đông, hoặc chí ít cũng ngang với Đặng Tiểu Bình – người khởi xướng đổi mới từ năm 1978 và đưa China thành công về kinh tế như ngày nay.

- Tập đang thực hiện chiến dịch chống tham nhũng với khẩu hiệu “đập ruồi đả hổ” (dư luận China cũng cho rằng đây là sự đấu đá nội bộ trong Đảng cộng sản China, vốn có truyền thống và rất khốc liệt, thậm chí đẫm máu như dưới thời Mao), mà ngay cả các Ủy viên Bộ Chính trị cũng là đối tượng bị tống giam, chưa kể đến hàng loạt tướng tá trong quân đội, cũng như các ủy viên trung ương khác. Chỉ riêng việc này thôi, cũng cho thấy, Tập là người “dám nghĩ, dám làm”, và không phải ai cũng dám làm như ông ta. Rõ ràng đây là con người có tố chất mạnh mẽ, tự tin…

- Tự tin vào sức mạnh kinh tế của mình, China dưới sự lãnh đạo của Tập, còn muốn Mỹ “chia đôi Thái Bình Dương”, muốn rằng Mỹ nhượng lại China phần phía Tây Thái Bình Dương, tính từ Quần đảo Hawaii thuộc Mỹ. Trong chuyến thăm Mỹ hồi tháng 6/2013, tại cuộc tiếp kiến với Tổng thống Barak Obama, Tập nói: “Thái Bình Dương đủ rộng cho cả Mỹ và Trung Quốc”. Như vậy, “đường lưỡi bò” ở Biển Đông Việt Nam, mới chỉ là “cái ao nhà” trong tham vọng của China mà thôi.

Tập Cận Bình sẽ đưa China theo hướng nào, về đâu?

Từ một vài nhận định nổi bật trên đây về Tập Cận Bình, và nhìn tổng thể hiện trạng đất nước China hôm nay, có thể dự đoán:

1. Biết được sự diệt vong tất yếu của hệ thống quyền lực cộng sản, cho nên đã từ lâu, giới cầm quyền Bắc Kinh đang đi tìm một mô hình nhà nước kiểu mới.

Rõ ràng, mô hình nhà nước dân chủ theo châu Âu và Mỹ là điều Bắc Kinh không bao giờ mong muốn, thậm chí là sợ hãi, vì theo thể chế này, rất có thể đến một lúc nào đó sẽ có trưng cầu dân ý theo nguyện vọng đòi độc lập của các lãnh thổ bị chiếm đóng như Tân Cương, Tây Tạng, và cả là Đài Loan…

China hiện đang rất lưỡng nan về vấn đề này. Duy trì sự độc tài sẽ kìm hãm phát triển, và không sớm thì muộn cũng đi đến sụp đổ. Ngược lại, theo hướng dân chủ đa đảng thì China có thể phân rã thành nhiều nước như đã nói trên.

Như vậy, có thể nói, mâu thuẫn cơ bản hiện nay của China đó là tìm một mô hình phát triển, vừa để duy trì tăng trưởng, ổn định đất nước, đồng thời tránh được sự phân rã nhà nước China thành nhiều nước nhỏ trong tương lai.

2. Rất có thể cuộc chống tham nhũng với khẩu hiệu “đập ruồi đả hổ” của Tập sẽ đi theo một hướng khác ngoài sự kiểm soát của Tập và các tay chân của ông ta. Trong thể chế độc quyền cộng sản, tham ô là do “Lỗi hệ thống” tạo nên, cá nhân có quyền lực và tham nhũng thực ra là những tên mafia có hạng. Không dễ gì bọn này khoanh tay để rồi lần lượt bị Tập cho vào tù. Chỉ cần một nhóm tướng lĩnh trong quân đội ra tay chống đối Tập, thì chính trường China sẽ đi theo một hướng khác. Hơn ai hết, người Tàu và người Á Đông rất hiểu thành ngữ “người tính không bằng trời tính”.

3. Do muốn khẳng định vai trò cá nhân trong lịch sử hiện đại China, cũng như tránh cho Đảng cộng sản trên đà sụp đổ, sự hiếu chiến của Bắc Kinh ở Biển Đông Việt Nam trong những năm qua, đang đưa China bị cô lập trên chính trường Quốc tế. Nếu như lãnh đạo Việt Nam run sợ trước Bắc Kinh, thì ngược lại, Mỹ, Nhật đủ sức mạnh để khuất phục China. Mặt khác, chính trường Việt Nam cũng rất khó lường. Chỉ cần một biến cố ở Việt Nam và Việt Nam không còn đi theo quỹ đạo của Bắc Kinh, khi đó Liên minh quân sự Việt – Nhật – Mỹ được hình thành, thì đây sẽ là tai họa đối với China. Hiểu được điều này, cho nên, hiện tại Bắc Kinh không tiếc tiền đổ vào Việt Nam (thông qua đầu tư, viện trợ…) nhằm duy trì chế độ tuân phục hiện nay ở Việt Nam.

4. China hiện đang rất sợ chiến tranh, đặc biệt là với Mỹ, Nhật. Chính vì vậy, hôm 9-7, mở đầu cuộc Đối thoại về Chiến lược và Kinh tế (S&ED) thường niên giữa China và Mỹ, Tập Cận Bình nói: “Nếu Trung Quốc và Mỹ đối đầu, đó sẽ là một thảm họa. Chúng ta phải tôn trọng lẫn nhau, đối xử với nhau bình đẳng và tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lựa chọn của các bên trên con đường phát triển”.

Sự thất bại của phe Trục trong Chiến tranh thế giới thứ 2, buộc Nhật Bản phải trao trả các lãnh thổ và đảo ngoài khơi cho các nước mà Nhật đã xâm chiếm; đây là bài học mà Bắc Kinh nằm lòng để không phải trả Hoàng Sa cho Việt Nam nếu như gây chiến tranh và bị đánh bại trong chiến tranh đó. Nếu người Việt vẫn nặng lòng với Hoàng Sa, thì đây cũng sẽ là một cơ hội để lấy lại Hoàng Sa, một khi China thất bại trong các cuộc chiến về sau này.

Không loại trừ khả năng sẽ có xung đột nhỏ ở Biển Đông Việt Nam, và vượt quá tầm kiểm soát để rồi đi đến một cuộc chiến cấp khu vực và buộc Nhật, Mỹ phải tham gia, và kết quả sẽ dành cho China như dự báo trên đây.

5. Sự hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông Việt Nam, thực ra phần nào đang che dấu sự bế tắc của Tập ở cả phương diện đối nội và đối ngoại.

Thật vậy, những mâu thuẫn xã hội trong lòng China (kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, đói nghèo…), cũng như sự phản kháng của người Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, Tây Tạng… đang là một nguy cơ lớn để China bất ổn.

Sự cứng rắn của Thượng viện Mỹ, với việc thông qua nghị quyết 412 hôm 10.7.2014, với số phiếu tuyệt đối “Yêu cầu China rút giàn khoan HD 981, giữ nguyên hiện trạng và không được cản trở lưu thông hàng hải”, như là một lời cảnh báo đối với tham vọng của Tập Cận Bình, không chỉ ở Biển Đông Việt Nam, mà làm cho Tập mất uy tín ngay cả trong nước và Quốc tế.

Tập Cận Bình sẽ là người đưa China cộng sản đến tan rã và đó là kết cục có hậu đối với thế giới.

16.7.2014
H.M.
Tác giả gửi BVN

Ls. Lê Công Định: Anh Huỳnh Anh Trí nói chính xác về nhà tù cộng sản

Đăng bởi Anh vào Thứ Tư

VRNs (16.07.2014) – Sài Gòn – “Tôi không có trải nghiệm về điều này vì chưa từng bị cùm trong thời gian ở tù. Tuy nhiên, hầu hết tù nhân mà tôi tiếp xúc khi ở các trại giam khác nhau đều kể với tôi đúng như anh Huỳnh Anh Trí tố cáo, vì họ đã trải qua trường hợp bị cùm do vi phạm kỷ luật của trại giam. Họ rất e ngại các cùm dính máu như vậy, nhưng không ai dám đề nghị thay đổi hay phản đối, vì sợ bị quy chụp là chống đối cán bộ quản giáo và do đó sẽ mất cơ hội được xét giảm án. Thật ra, tình trạng này có thể tránh được vì chỉ cần làm vệ sinh các cùm đó mỗi khi đã sử dụng, song dường như đấy không phải là mối bận tâm của các cán bộ quản giáo”. Luật sư Lê Công Định bình luận về câu chuyện của ông Huỳnh Anh Trí bị nhiễm HIV/AIDS trong trại giam và đã quan đời vào ngày ngày 05.07.2014, tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch – Sài Gòn.

Sau đây xin mời Quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn giữa Pv. VRNs với Luật sư Lê Công Định.

VRNs: Thưa Ls Lê Công Định, trên trang facebook cá nhân của ông, Luật sư đã viết: “Tôi xác nhận có tình trạng sử dụng một dao lam cạo râu và hớt tóc cho rất nhiều tù nhân ở các trại tạm giam và trại cải tạo mà tôi từng trải qua”. Luật sư có thể nói rõ hơn về tình trạng này được không ạ? Và ông nhận định như thế nào về việc làm này?

Ls Lê Công Định: Tôi đọc bài phỏng vấn anh Huỳnh Anh Trí về sự việc đó thấy anh nói chính xác, vì tôi đã chứng kiến tình trạng như vậy trong thời gian ở tù. Nội quy của các trại giam đều cấm sử dụng vật dụng bằng sắt trong buồng giam, đồng thời cũng cấm tù nhân nam để râu và tóc dài. Do vậy, tại các trại giam, quản giáo thường buộc tù nhân cạo râu chung để tiện quản lý, từ đó đưa đến tình trạng nhiều tù nhân phải sử dụng cùng một dao lam do trại cung cấp. Riêng ở khám Chí Hòa, nơi tôi ở trong 2 năm rưỡi, không có tình trạng này, vì dao lam bị cấm tuyệt đối, nên tù nhân phải nhổ râu bằng các dụng cụ tự chế hoặc bằng cách se chỉ, tôi nghe nói rất đau rát.

Tất nhiên, việc cấm sử dụng vật dụng bằng sắt trong buồng giam có lý do chủ yếu là tránh trường hợp tù nhân thanh toán lẫn nhau khi bất hòa, nhưng điều đó không thể biện minh cho việc duy trì tình trạng sử dụng chung một dao lam cho nhiều tù nhân, vốn nguy hiểm vì nguy cơ lây lan cao các bệnh truyền nhiễm qua đường huyết như AIDS. Ai có lương tâm cũng dễ dàng nhận thấy rằng nhiễm bệnh hiểm nghèo nhiều khi nguy hiểm hơn bị thương tích vì bạo hành, và đương nhiên người quản lý có lòng nhân đạo phải ngăn ngừa cả hai mối nguy hại như vậy cho tù nhân. Sở dĩ quản giáo của các trại giam chỉ tập trung ngăn ngừa tù nhân thanh toán lẫn nhau là vì họ không muốn chịu trách nhiệm về tình trạng mất trật tự trong trại giam, còn việc tù nhân nhiễm bệnh hay không thì dường như họ chẳng bận tâm.
140715011

VRNs: Thưa Luật sư, Ông Huỳnh Anh Trí cũng tố cáo về các cùm dơ còn rướm máu thì ông nghĩ như thế nào về điều này? Luật sư có trải nghiệm ra sao về điều này?

Ls Lê Công Định: Tôi không có trải nghiệm về điều này vì chưa từng bị cùm trong thời gian ở tù. Tuy nhiên, hầu hết tù nhân mà tôi tiếp xúc khi ở các trại giam khác nhau đều kể với tôi đúng như anh Huỳnh Anh Trí tố cáo, vì họ đã trải qua trường hợp bị cùm do vi phạm kỷ luật của trại giam. Họ rất e ngại các cùm dính máu như vậy, nhưng không ai dám đề nghị thay đổi hay phản đối, vì sợ bị quy chụp là chống đối cán bộ quản giáo và do đó sẽ mất cơ hội được xét giảm án. Thật ra, tình trạng này có thể tránh được vì chỉ cần làm vệ sinh các cùm đó mỗi khi đã sử dụng, song dường như đấy không phải là mối bận tâm của các cán bộ quản giáo.

VRNs: Thưa Luật sư, ông là đã từng trải qua các nhà tù cs VN thì quan điểm của ông như thế nào về câu chuyện của ông Huỳnh Anh Trí bị nhiễm HIV/AIDS trong trại giam?

Ls Lê Công Định: Thật ra việc anh Huỳnh Anh Trí bị nhiễm HIV/AIDS trong trại giam chưa thể xác quyết về phương diện bằng chứng vì nhiều lẽ, nhất là trong thời gian bị giam cầm anh không được chăm sóc y tế đầy đủ và không được xét nghiệm cần thiết để phát hiện và chữa bệnh. Nên bây giờ người ta có thể nêu nhiều giả thuyết về khả năng nhiễm bệnh để chối phăng đi. Tuy nhiên, theo tôi việc anh Trí bị lây nhiễm trong khi ở tù có thể tin được, nếu xét thời gian phát bệnh, ra tù và qua đời.

Khi ở trong tù tôi cũng e ngại việc lây nhiễm bệnh xảy ra với mình và ngay từ đầu tôi luôn để tâm ngăn ngừa mọi khả năng như thế. Sau khi ra tù, điều đầu tiên tôi làm là kiểm tra sức khỏe và thực hiện mọi xét nghiệm cần thiết tại một bệnh viện tin tưởng. May mà sức khỏe tôi tốt, thậm chí hơn cả thời gian trước khi bị bắt, do tôi ăn uống điều độ, thường xuyên tập luyện thể dục và điều quan trọng là sống ung dung tự tại trong tù.

Nói như vậy không có nghĩa là tôi đã được chăm sóc y tế tốt hay đặc biệt trong tù. Khi bị bệnh tôi cũng chỉ được cấp thuốc như các tù nhân khác, mà thuốc được cấp thì chất lượng không bảo đảm và thường bị thiếu, muốn nhờ gia đình gửi riêng vào thì họ không cho với lý do không rõ nguồn gốc. Chỉ riêng thuốc trị cao huyết áp mà tôi uống hàng ngày gia đình mới được phép gửi, do trại giam không có loại phù hợp với tôi, nhưng việc gửi vào lại rất phiền toái bởi lắm thủ thủ tục này nọ nhằm gây khó khăn. Vì vậy, cách duy nhất bảo vệ mình là tập thể dục và giữ vệ sinh.

VRNs: Để tránh những chuyện đau lòng khác có thể xảy ra, vậy thưa Luật sư, chúng ta nên làm gì để có thể cải thiện chế độ lao tù cũng như chế độ chăm sóc y tế cho các tù nhân, tù thường phạm là những người đang bị đối xử ngược đãi, bị mất nhân quyền và nhân phẩm?

Ls Lê Công Định: Thật khó có thể làm gì để cải thiện chế độ lao tù cũng như chăm sóc y tế cho các tù nhân, đơn giản vì chính quyền kiểm soát việc này mà không ai có quyền góp ý kiến. Chẳng hạn, hồi tôi sống tại trại Chí Hòa, buồng giam tôi ở đặt ngay gần một ống dẫn nước thải hôi thối nồng nặc 24/24 giờ. Có nhiều đêm đang ngon giấc tôi đã phải bật dây vì mùi xú uế độc hại xông thẳng vào mũi khiến mình có cảm giác chết ngạt. Tôi nhiều lần yêu cầu cán bộ quản giáo sửa chữa, thì họ viện lý do cơ sở vật chất đã cũ và xuống cấp nên không thể khắc phục. Mãi đến khoảng hơn 1 tháng trước khi tôi được trả tự do, họ mới cho sửa chữa lấy lệ, nhưng mùi hôi thối thì đâu vẫn hoàn đấy. Trong 2 năm rưỡi hít thở bầu không khí ô nhiễm suốt ngày đêm và gần 4 năm tắm giặt bằng nước giếng không qua xử lý, tôi tự hỏi phải chăng sức chịu đựng bền bỉ đã giúp tôi vượt qua nghịch cảnh ấy? Vậy nhưng lúc nào người ta cũng “leo lẻo” rằng tôi đã được đối xử đặc biệt và nhiều ưu ái.

Ngoài ra, cần phải nói đến việc tù nhân bị chửi mắng và đánh đập. Tất cả các trại giam mà tôi trải qua đều có tình trạng này ở mức độ nghiêm trọng. Có hay không lý do, tù nhân đều có thể bị đánh chửi. Chẳng hạn, tôi từng chứng kiến điều tra viên và cán bộ quản giáo đánh người khi không cung khai đầy đủ hoặc vi phạm kỷ luật. Tù nhân đang thi hành án bị bệnh đề nghị khám sức khỏe có thể bị mắng là kiếm cớ trốn lao động. Ở khám Chí Hòa, việc sỉ nhục tù nhân là “trâu”, “chó” là điều bình thường mà tôi thường xuyên nghe thấy, thậm chí có cán bộ, mà tôi không tiện nói tên, gọi tù nhân là những “con thú tù”. Có lần tôi phản ứng trước việc một cán bộ quản giáo trẻ tuổi đánh chửi một tù nhân lớn tuổi, thế là từ đó có chỉ đạo ngầm từ ban chỉ huy rằng quản giáo không nên đánh chửi tù nhân trước mặt tôi. Nhìn tù nhân bị chửi mắng và đánh đập, tôi không nghĩ họ được đối xử như con người khi sa chân vào chốn lao tù. Riêng tôi chưa bị đối xử như vậy vì thái độ cư xử của tôi luôn ôn hòa, từ tốn và không dễ bị khiêu khích một cách cố ý từ ai.

Cám cảnh thân phận của các tù nhân nói chung mà tôi từng trải qua, chứng kiến và nghe kể lại, tôi đã làm bài thơ sau đây để diễn đạt nỗi lòng và nỗi xót thương tận cùng của mình:

Phận mọn “thú tù” thua thú vật,
Đổi cơm cày nặng ách trâu bò.
Cãi lời quản giáo ngang nhiên đánh,
Phạm lỗi gia đình tốn kém lo.
Ngã bệnh cắn răng đau mắng chửi,
Muốn yên học nhẫn chịu dày vò.
Giữa trần địa ngục nay tin có,
Vàng mã nhân quyền giấy hóa tro!
(Làm tại khám Chí Hòa năm 2012)

VRNs: Xin chân thành cám ơn Ls Lê Công Định

Xin nhắc lại, trước khi Tù nhân lương tâm Huỳnh Anh Trí qua đời, ông đã can đảm công bố cho công luận biết ông đã bị nhiễm HIV/ AIDS trong thời gian bị giam cầm. Ông Trí khẳng định, ông bị nhiễm HIV/ AIDS qua đường máu với các bằng chứng sống động và thực như các cán bộ trại giam bắt các tù nhân, tù thường phạm phải sử dụng chung 1 con dao lam để cạo râu, cắt tóc… đặc biệt là các tù nhân, tù thường phạm bị “kỷ luật” mà “không biết điều” thì sẽ bị cùm những cùm dơ bẩn, vẫn còn rướm máu thịt của những người bị nhiễm HIV/AIDS đã bị cùm trước đó.

Ông Trí mãn hạn tù vào tháng 12.2013. Thời gian này, sức khỏe ông càng ngày càng nguy kịch. Vào tháng 5.2014, ông Trí đi xét nghiệm máu ở bệnh viện Pasteur cho kết quả dương tính với HIV/ AIDS và đã chuyển sang giai đoạn cuối là giai đoạn AIDS.

Ông Trí khẳng định, trước khi vào nhà tù, ông là một người khỏe mạnh nhưng sau khi mãn hạn tù ông đã mắc căn bệnh thế kỷ này. Ông Huỳnh Anh Trí quả quyết, ông bị nhiễm HIV/ AIDS là do sự ác ý và cố tình của nhà tù cs VN với chủ trương hủy diệt tính mạng các tù nhân lương tâm chính trị của nhà cầm quyền cs VN.
Huyền Trang, VRNs đặt câu hỏi
Ls Lê Công Định viết trả lời

Theo VRNs
 
Copyright © 2009. ↑ Khối 8406 Việt Nam - All Rights Reserved
Hội Huynh Đệ Người Việt