Khối 8406 Việt Nam
Khối 8406 Việt Nam: Lãnh thổ
Tin Nổi Bật
print this page
Bài Mới
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lãnh thổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lãnh thổ. Hiển thị tất cả bài đăng

Tác dụng pháp lý của thư Phạm Văn Đồng qua lăng kính ba phán quyết Tòa án Quốc tế

Đăng bởi Anh vào Thứ Bảy

Ba phán quyết của Tòa án Quốc tế mà học giả Phạm Quang Tuấn trưng ra làm bằng chứng dưới đây có thể xem là ba thiết chứng chỉ rõ tác dụng phản trắc đắc lực của Công hàm/Công thư Phạm Văn Đồng nếu Việt Nam đem vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa ra trước Tòa án Quốc tế. Đọc xong không ai không thảng thốt đến nhói tim. Điều ông Giám đốc Minh triết Việt Nguyễn Khắc Mai nói cách đây ít lâu bỗng trở thành một ám ảnh ghê gớm: “Công hàm Phạm Văn Đồng là một tai họa cho Việt Nam trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc”, là “một công thư phản động”, “có tác hại phản quốc” (Xem ở đây). Thử nghĩ, công thư của một ông Thủ tướng là “phản động”, “phản quốc” thì bản thân ông Thủ tướng và bộ sậu Chính phủ của ông ta là gì? Càng ngày càng thấy cái gọi bằng liên minh cộng sản nhân danh chủ nghĩa vô sản quốc tế trong thế kỷ XX chỉ ẩn giấu phía sau độc nhất mỗi mưu đồ thôn tính lãnh thổ của nước lớn đối với nước nhỏ.

Alexandre Soljenitsyne đã từng khẳng quyết: “Quốc tế – L’International – là một sai lầm, vì bản thân chữ “inter” có nghĩa là giữa và giữa các quốc gia không có một nền văn hóa chung nào cả” (L'international est une aberration, car “inter” signifie entre et entre les nations il n'y a aucune culture commune). Ngu dại thay những ai vì quá nôn nóng tìm đường cứu nước vào những năm 20-30 thế kỷ trước, đem tấm lòng nhiệt huyết băng vời sang Tàu sang Nga để chỉ mua lấy một sợi dây thừng về quấn chân dân tộc.

Nhưng cho đến giờ phút này mà vị nào trong thế hệ cháu con những con người ngu dại kia còn cuồng tưởng rằng bè lũ Trung Nam Hải có thể cứu được thân phận “cùng hội cùng thuyền” về ý thức hệ, hay đúng hơn là quyền lợi ích kỷ cho phe đảng, thì không chỉ lú lẫn thôi đâu, mà chóng hay chầy nhất định sẽ phải chịu sự phán xét khắc nghiệt nhất của lịch sử. Quả như lời chí sĩ Phan Châu Trinh: “Gớm thay một lũ hồ tinh / Nương hơi dựa bóng tập tành đã quen”.

Nguyễn Huệ Chi


Gần đây một số tác giả, trong đó có cả những luật sư, đã phân tích giá trị pháp lý của thư (hoặc công hàm hay công thư [1]) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1958) dựa theo các nguyên tắc pháp lý quốc tế. Dĩ nhiên, biết những nguyên tắc luật pháp nào phải áp dụng là điều rất quan trọng, nhưng điều quan trọng chẳng kém là phải biết Tòa diễn giải và áp dụng những nguyên tắc đó ra sao. Bài này duyệt qua phán quyết của Tòa án Quốc tế về ba vụ án tranh chấp chủ quyền: đảo Pedra Branca, Đông Greenland và đền Preah Vihear.

Trong vụ Pedra Branca có một lá thư từ một viên Đổng lý tương tự như thư Phạm Văn Đồng. Vụ Đông Greenland không có văn kiện chính thức mà chỉ có một lời nói từ một vị Ngoại trưởng. Vụ Preah Vihear không có văn kiện hay lời nói nào từ bỏ chủ quyền của mình hay công nhận chủ quyền của nước khác. Cả ba việc này đều đóng một phần quan trọng đưa đến việc Tòa xử mất chủ quyền. Từ đó, ta sẽ có thể suy ra vài điều về tác dụng của thư Phạm Văn Đồng nếu chủ quyền Hoàng sa - Trường sa được đem ra kiện trước tòa. Người nào không có thì giờ đọc hết có thể đi thẳng đến câu cuối (kết luận 14) bài này.

Lưu ý:

Vài lý lẽ trong bài này có thể khiến tác giả bị gọi là “thân Tàu” hay “Việt gian”. Trong bối cảnh Việt Nam có thể kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, xin hãy coi bài này như một cố gắng kiểm điểm áo giáp của mình trước khi ra trận, xem có lỗ thủng nào không để tìm cách vá lại. Nếu tìm ra lỗ thủng thì “Việt gian” “thân Tàu” không phải là người kiểm điểm, mà chính là người gây ra lỗ thủng.

Phần I. Ý định trong thư Phạm Văn Đồng

Như ta sẽ thấy trong các phần sau, ý định (intention) diễn tả trong một lá thư hay văn kiện chiếm một vai trò chính yếu trong sự phân xử của Tòa án Quốc tế. Vì có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung của thư Phạm Văn Đồng nên cần xem lại thư này nói gì. Nguyên văn thư Phạm Văn Đồng như sau ([A] và [B] do tác giả bài này đánh số thêm để tiện việc bàn luận):

Kính gửi đồng chí Chu Ân Lai,

Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa tại Bắc Kinh.

Thưa đồng chí Tổng lý

Chúng tôi xin trân trọng thông báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

[A] Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

[B] Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958

PHẠM VĂN ĐỒNG

Thủ tướng Chính phủ

nước Việt-nam dân chủ cộng hoà

Thư này “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố” ngày 4/9/1958 của Trung Quốc mà nội dung như sau (theo bản tiếng Anh của Bộ Ngoại giao Mỹ viện dẫn tạp chí Peking Review [2]):

Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, gồm Trung Quốc đất liền và các đảo dọc bờ, Ðài Loan và các đảo lân cận, quần đảo Penghu và tất cả các đảo khác trên biển cả thuộc Trung Quốc.

(2) Đường cơ sở của lãnh hải thuộc đất liền Trung Quốc và các đảo dọc bờ biển là các đường thẳng nối liền các điểm cơ sở trên bờ và các đảo ngoại biên dọc bờ biển [offshore outlying islands]; Vùng biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là lãnh hải của Trung Quốc. Vùng biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong đường cơ sở, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongding, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được đi vào hải phận Trung Quốc và vùng trời trên hải phận này.

(4) Những nguyên tắc trong đoạn (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Trường Sa], và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Ðài Loan và Penghu hiện còn bị chiếm đóng bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Đây là vấn đề nội bộ của Trung Quốc, các nước ngoài không được xen vào.

Thư Phạm Văn Đồng là một lá thư chính thức (công thư hay công hàm), ký tên và đóng dấu bởi Thủ tướng một quốc gia, người đứng đầu Chính phủ, nhân danh Chính phủ để nói và đầy đủ tư cách để đại diện quốc gia của mình.

Bức thư gồm hai câu chính: câu đầu (A) bày tỏ lập trường, thái độ: tán thành bản tuyên bố của Trung Quốc. Câu sau (B) nói về hành động cụ thể: chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước phải tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc.

Nhiều tác giả và phát ngôn viên Việt Nam (chẳng hạn [3]) cho rằng vì thư Phạm Văn Đồng không viết rõ những chữ “Hoàng sa” và “Trường sa” nên không thể nói là đã chấp nhận chủ quyền Trung Quốc ở hai quần đảo trên. Họ cho rằng bản tuyên bố nói về bề rộng 12 hải lý là ý chính, những ý khác (kể cả hải phận quanh Hoàng sa - Trường sa) chỉ là ý phụ, thư Phạm Văn Đồng chỉ tán thành ý chính này chứ không tán thành những ý phụ. Những người sính ngôn ngữ luật gọi đây là “nguyên tắc bốn góc”: chỉ được hiểu từ những gì được viết ra trong văn bản, không được suy diễn thêm.

Có người còn viện dẫn nguyên tắc “phải giải thích văn bản theo cách nào ít hại nhất cho tác giả” trong luật quốc tế. Tuy nhiên, dù giải thích “trong bốn góc” và “ít hại nhất” thì cũng vẫn phải hợp lý và tuân theo những nguyên tắc logic phổ quát và các định luật ngôn ngữ căn bản. Chẳng hạn, trong vụ Pedra Branca ta sẽ thấy Tòa hiểu câu “[chúng tôi] không đòi hỏi sở hữu [đảo này]” là “[chúng tôi] không đòi hỏi chủ quyền [đảo này]”, dù theo luật pháp thì không có sở hữu chưa chắc là không có chủ quyền.

Thử áp dụng nguyên tắc “trong bốn góc”, ta đọc thấy rằng ông Phạm Văn Đồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố”. Lưu ý chữ “bản”, nói về cả văn bản, chứ không phải chỉ nói về một trong những tuyên bố trong văn bản: mặc nhiên là ông Phạm Văn Đồng đã tán thành toàn bộ nội dung của bản tuyên bố đó. Nếu chỉ tán thành một phần và không tán thành phần khác thì không thể nói là tán thành bản tuyên bố được. Bản tuyên bố nói trong đoạn 4 rằng lãnh hải Trung Quốc bọc quanh Hoàng Sa và Trường Sa, tức là ông Phạm Văn Đồng đã tán thành điều đó, không cần phải nhắc lại trong thư của mình.

Lấy ví dụ, khi tòa án hỏi nhân chứng: “Ông/bà có hứa sẽ nói sự thật, tất cả sự thật và không gì khác ngoài sự thật?” (Do you swear to say the truth, the whole truth and nothing but the truth?), nhân chứng chỉ cần trả lời “I do” là đủ hiểu họ hứa tất cả những điều được hỏi, chứ không thể hiểu là họ chỉ hứa phần 1 nhưng không hứa phần 2 hay 3, v.v., và chắc chắn là không thể cãi rằng “tôi chỉ nói ‘I do’ chứ tôi đâu có hứa gì đâu?”. Hoặc trong thủ tục kết hôn, khi được hỏi “Anh/chị có hứa/thề sẽ...” (theo sau là nhiều lời hứa) cô dâu chú rể chỉ cần trả lời “Có” (I do) chứ không cần phải nhắc lại tất cả các lời hứa người hành lễ vừa đọc.

Có người cho rằng câu B trong thư Phạm Văn Đồng làm hẹp lại nghĩa của câu A: câu A tán thành chung chung, câu B mới viết cụ thể là tôn trọng hải phận 12 hải lý. Khi mà nói về một điều tức là loại ra hay bác bỏ những điều không nói. Lý luận đó chỉ có thể đúng nếu không có đoạn “tán thành bản tuyên bố” trong câu A, vì không thể vừa tán thành một bản văn vừa không tán thành nhiều điều trong bản văn đó. Hơn nữa, câu B không phải là làm rõ nghĩa câu A như nhiều người lý luận, mà nói về một hành động cụ thể (chỉ thị các cơ quan...) phát sinh từ sự tán thành trong câu A.

Có người cho rằng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa không cần thiết phải tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa vì những đảo này đang dưới sự quản lý của Việt Nam cộng hòa. Lý luận như vậy là lẫn lộn chủ quyền với sự quản lý. Hiến pháp Việt Nam dân chủ cộng hòa nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia, tức là Việt Nam dân chủ cộng hòa tự coi là có chủ quyền trên mọi phần đất Việt Nam từ bắc tới nam, và mọi hải đảo.

Có người [4] viết rằng, dựa theo “nguyên tắc thực lòng” (principle of good faith) trong luật quốc tế, vì Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là những người rất yêu nước, đã từng hy sinh xương máu để bảo vệ chủ quyền đất nước nên họ không thể thực lòng muốn nhường lãnh thổ cho nước khác, do đó Tòa án Quốc tế sẽ không nhìn nhận ý định đó trong thư Phạm Văn Đồng. Diễn giải “thực lòng” theo kiểu này thì thật kỳ quặc, vì như vậy mỗi nước sẽ có quyền tha hồ tuyên bố, ký hiệp ước lừa bịp các nước khác, rồi tuyên bố rằng tôi không “thực lòng” (in good faith) khi viết hay ký những văn kiện đó và do đó chúng không ràng buộc tôi được! Diễn giải kiểu đó thì “nguyên tắc thực lòng” sẽ phải gọi là “nguyên tắc dối trá” (principle of bad faith)!

Thực ra, sự “thực lòng” trong giao dịch quốc tế phải hiểu là người viết hay ký thực lòng hiểu ý nghĩa của cái mình đang viết hay đang ký như thế nào, và sẽ thực lòng thi hành những gì đã hứa, chứ không có nghĩa là khi mình nói dối, nói mà “không thực lòng”, thì không sợ sẽ bị ràng buộc. Nguyên tắc này cần thiết để diễn dịch những hiệp ước, văn kiện trong đó có thể có sự hiểu lầm do khác biệt văn hóa chẳng hạn, và để đảm bảo là mỗi nước thực tâm thi hành những điều đã hứa [5].

Nếu ông Phạm Văn Đồng thực lòng chỉ tán thành việc cho bề rộng lãnh hải Trung Quốc rộng 12 hải lý thì ông vẫn có thể bỏ đoạn A đi, chỉ viết rằng: “Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung-quốc và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý ấy”. Như vậy chẳng đủ biểu lộ sự đoàn kết với nước anh em hay sao? (“Tôn trọng” chưa chắc đã là “tán thành”, tôn trọng nói về hành xử, tán thành nói về thái độ, tâm ý.)

Nói tóm lại, khó chối cãi rằng trong thư Phạm Văn Đồng, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tán thành hay chấp nhận Trung Quốc có chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường sa. Ít nhất, thư này không phản ứng gì về câu “áp dụng cho... quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], quần đảo Nam Sa [Trường Sa]” trong bản tuyên bố của Trung Quốc: ta sẽ thấy là điều này rất quan trọng.

Phần II. Vụ án Pedra Branca

Tóm tắt vụ án

Pedra Branca, Middle Rocks và South Ledge là những đảo nhỏ nằm trong eo biển Malacca giữa Singapore và Malaysia. Thế kỷ 19 trở về trước những đảo này thuộc về vương quốc Johor, nay là một bang của Malaysia. Năm 1844 Johor cho phép chính quyền thuộc địa Anh xây và sau đó liên tục cai quản một hải đăng trên Pedra Branca. Năm 1979 Malaysia (quốc gia kế thừa Johor) công bố một bản đồ vẽ nhóm đảo này nằm trong lãnh hải của mình. Singapore (quốc gia kế thừa chính quyền thuộc địa Anh) phản đối. Hai nước đưa ra Tòa án Quốc tế phân xử năm 2003. Tòa xử là Pedra Branca thuộc về Singapore, Middle Rocks thuộc về Malaysia, còn South Ledge là đảo chìm khi nước lên, nên theo luật biển chủ quyền sẽ tùy thuộc nằm trong lãnh hải của nước nào (lãnh hải khu này chưa phân định xong) [6, 7].

Một sự kiện nổi bật trong quá trình này xảy ra năm 1953. Năm đó, chính quyền thuộc địa Anh viết thư cho Johor yêu cầu làm rõ tình trạng pháp lý của Pedra Branca. Quyền Đổng lý Tiểu bang (Acting State Secretary) Johor viết thư trả lời. Vì đáp thư Johor được tòa coi là có ý nghĩa rất quan trọng trong vụ án này, và có nhiều điểm tương đồng với thư Phạm Văn Đồng, nên cần biết rõ nội dung của nó. Nguyên văn lá thư như sau (đoạn 196 trong [6]):

“I have the honour to refer to your letter . . . dated 12th June 1953, addressed to the British Adviser, Johore, on the question of the status of Pedra Branca Rock some 40 miles from Singapore and to inform you that the Johore Government does not claim ownership of Pedra Branca.”

dịch:

Tôi xin trân trọng đề cập đến thư của ngài ngày 12 tháng 6 năm 1953, gửi cho Cố vấn Anh, Johore, về tình trạng của Pedra Branca cách Singapore khoảng 40 dặm và xin thông báo rằng Chính phủ Johore không đòi quyền sở hữu Pedra Branca.”

Những tiêu chuẩn pháp lý được Tòa áp dụng

Tòa đã xác định những tiêu chuẩn pháp lý được áp dụng như sau (“đoạn xxx” chỉ những đoạn có số thứ tự trong phán quyết của Tòa [6]):

· Muốn kết luận là đã có sự thay đổi chủ quyền thì cần có những bằng cớ rõ rệt, không thể nghi ngờ, căn cứ vào cách hành xử hai bên và những sự kiện liên hệ (đoạn 122).

(122. Critical for the Court’s assessment of the conduct of the Parties is the central importance in international law and relations of State sovereignty over territory and of the stability and certainty of that sovereignty. Because of that, any passing of sovereignty over territory on the basis of the conduct of the Parties, as set out above, must be manifested clearly and without any doubt by that conduct and the relevant facts. That is especially so if what may be involved, in the case of one of the Parties, is in effect the abandonment of sovereignty over part of its territory.)

· Luật pháp quốc tế không nhấn mạnh vào hình thức (chẳng hạn, một hiệp ước chuyển nhượng chủ quyền), thậm chí không cần hai bên nói ra (tacit), mà tập trung vào ý định (intention) của hai bên. Sự thay đổi chủ quyền có thể suy diễn từ cách hành xử của hai bên.

(120. Any passing of sovereignty might be by way of agreement between the two States in question. Such an agreement might take the form of a treaty,[...] The agreement might instead be tacit and arise from the conduct of the Parties. International law does not, in this matter, impose any particular form. Rather it places its emphasis on the parties’ intentions (cf. e.g. Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), Preliminary Objections, I.C.J. Reports 1961, pp. 17, 31).)

· Nếu một nước không phản ứng khi cần thiết, chẳng hạn khi nước khác khẳng định chủ quyền trên vùng đất của mình, thì chủ quyền có thể coi là đã chuyển qua nước kia. Hành xử này gọi là sự đồng ý hay chấp nhận ngầm (acquiescence).

(121. Under certain circumstances, sovereignty over territory might pass as a result of the failure of the State which has sovereignty to respond to conduct à titre de souverain of the other State or, as Judge Huber put it in the Island of Palmas case, to concrete manifestations of the display of territorial sovereignty by the other State (Island of Palmas Case (Netherlands/United States of America), Award of 4 April 1928, RIAA, Vol. II, (1949) p. 839). Such manifestations of the display of sovereignty may call for a response if they are not to be opposable to the State in question. The absence of reaction may well amount to acquiescence. The concept of acquiescence “is equivalent to tacit recognition manifested by unilateral conduct which the other party may interpret as consent . . .” (Delimitation of the Maritime Boundary in the Gulf of Maine Area (Canada/United States of America), Judgment, I.C.J. Reports 1984, p. 305, para. 130). That is to say, silence may also speak, but only if the conduct of the other State calls for a response.)

Tóm tắt lý luận và phán quyết của Tòa

Để phân xử chủ quyền, Tòa đã xem xét quá trình liên quan đến chủ quyền trong từng giai đoạn lịch sử:

(i) Thời kỳ 1844 trở về trước: Sau khi xem xét những bằng chứng lịch sử, Tòa kết luận rằng ở thời điểm 1844, Pedra Branca và Middle Rocks thuộc về Johor (nay là một tiểu bang của Malaysia).

(ii) Trong thời gian 1844-1852, Johor đã cho phép Anh xây hải đăng trên Pedra Branca. Tòa không kết luận gì về sự kiện này, và cho rằng việc này không có nghĩa là Johor từ bỏ chủ quyền.

(iii) Từ 1852 tới 1952, Johor không có động thái nào khẳng định chủ quyền trên các đảo liên hệ.

(iv) Năm 1953, để trả lời một lá thư từ Đổng lý Thuộc địa (Colonial Secretary) Singapore hỏi về chủ quyền Pedra Branca, quyền Đổng lý Tiểu bang (Acting State Secretary) Johor viết lá đáp thư như đã nói, khẳng định là Johor “không sở hữu” Pedra Branca. Tòa viết trong phần Kết luận rằng lá thư này “có ý nghĩa lớn” (“has major significance” đoạn 275) và kết luận rằng ở thời điểm 1953 Johor đã hiểu (understood), tức là đã chấp nhận, rằng họ không còn chủ quyền trên Pedra Branca (đoạn 223).

(v) Trong khoảng thời gian 1953-1980 Singapore đã nhiều lần khẳng định chủ quyền trên Pedra Branca nhưng Johor/Malaysia không phản ứng. Không những thế đã có những tài liệu và bản đồ Malaysia cho thấy rằng Pedra Branca thuộc Singapore.

Căn cứ vào quá trình trên, Tòa kết luận rằng vị trí hai bên đã dần dà “tiến hóa hội tụ” (convergent evolution) về một quan điểm chung: chủ quyền Pedra Branca thuộc Singapore. Tuy nhiên Middle Rocks được cho là (vẫn) thuộc về Malaysia, vì không có một quá trình “tiến hóa hội tụ” tương tự.

Có thể tóm tắt phán quyết của Tòa như sau: Johor/Malasia đã mất chủ quyền Pedra Branca vì cách hành xử của họ trong suốt nhiều năm cho thấy rằng họ không còn coi đảo này thuộc về họ.

Nhận xét về phán quyết Pedra Branca

· Tuy đòi hỏi bằng chứng rõ rệt, không thể nghi ngờ được cho việc thay đổi chủ quyền, nhưng Tòa coi rằng hình thức của bằng chứng (chẳng hạn hiệp ước chính thức) không quan trọng, mà quan trọng là ý định (intention hay understanding) của hai bên, thông qua cách hành xử.

· Tòa đã xử cho Singapore được chủ quyền Pedra Branca, mặc dù ở thời điểm 1844 chủ quyền thuộc Johor (Malaysia) và sau đó không hề có hiệp ước nào chính thức chuyển nhượng chủ quyền.

· Tòa không căn cứ vào một văn kiện hay biến cố nào duy nhất, mà căn cứ vào một quá trình theo đó quan điểm của hai bên dần dần thay đổi theo cùng một hướng: sự thụ động của Johor/Malaysia từ 1844 tới 1952, đáp thư Johor 1953, sự thụ động của Malaysia khi Singapore thi hành chủ quyền trong thời gian 1953-1980.

· Tuy nhiên, tòa coi đáp thư Johor (1953) là “có ý nghĩa lớn” (has major significance) bởi vì nó cho thấy rằng ở thời điểm đó, Johor không còn coi Pedra Branca là của mình nữa.

· Để ý là Tòa viết (đoạn 222) rằng trong thư này chữ “sở hữu” - ownership – phải hiểu là “chủ quyền” – sovereignty, mặc dù Malaysia đã yêu cầu Tòa phân biệt hai khái niệm đó (đoạn 198): ta thấy là nguyên tắc diễn giải “ít hại nhất” hay “trong bốn góc” không thể đánh bại một cách hiểu hợp lý.

· Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor là một văn kiện chính thức từ bỏ chủ quyền (đoạn 226), nhưng tòa không chấp nhận (đoạn 228) vì nó chỉ được viết để trả lời một câu hỏi, nên không có tác dụng quyết định về mặt pháp lý (conclusive legal effect) [8].

· Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor gây ra estoppel (đoạn 226), nhưng tòa không chấp nhận (đoạn 228) vì thư đó không hội đủ các điều kiện cho estoppel, đặc biệt là nó đã không khiến cho Singapore làm gì thiệt hại cho mình. [9].

· Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor là một hành động đơn phương có tính cách ràng buộc (binding unilateral undertaking) (đoạn 226), nhưng Tòa không đồng ý (đoạn 229) vì đáp thư Johor không viết trong bối cảnh Anh tuyên bố chủ quyền trên Pedra Branca hay đang có tranh chấp, mà chỉ là để trả lời một câu hỏi [8].

· Tuy ba thỉnh nguyện trên của Singapore bị bác, nhưng điều đó không thay đổi kết quả tối hậu: Malaysia vẫn thua kiện.

Phần III. Vụ án Đông Greenland

Tóm tắt vụ án

Đảo Greenland được người Na Uy khám phá và định cư từ khoảng thế kỷ 10-11. Từ 1380 tới 1814 Na Uy là một phần của Đan Mạch. Đan Mạch đã kiểm soát Greenland và chủ quyền của Đan Mạch được một số nước khác ngầm công nhận (acquiesce). Tuy nhiên, những cơ sở của Đan Mạch đều nằm ở Tây Greenland và do đó Na Uy khi đã độc lập cho rằng Đan Mạch không có chủ quyền ở Đông Greenland. Sau nhiều thương nghị không có kết quả, năm 1931 Đan Mạch đem vụ này ra Tòa Công lý Quốc tế Thường trực (Permanent Court of International Justice), tiền thân của Tòa án Quốc tế. Năm 1933 Tòa xử Đan Mạch được chủ quyền toàn đảo Greenland [10].

Câu trả lời của Ngoại trưởng Ihlen

Bài này không đi vào chi tiết vụ án mà chỉ nói về một sự kiện quan trọng mà Tòa cho là có tính cách quyết định. Ngày 14/7/1919 trong một cuộc gặp mặt giữa Ngoại trưởng Đan Mạch và Ngoại trưởng Na Uy, Ngoại trưởng Đan Mạch nói rằng Đan Mạch sắp yêu cầu các nước công nhận chủ quyền Đan Mạch trên toàn thể Greenland, và hy vọng việc này sẽ không gặp khó khăn từ phía Na Uy. Ngoại trưởng Na Uy, ông Ihlen, nói rằng sẽ xem xét vấn đề, và ngày 22/7, trong một cuộc gặp mặt khác, Ihlen nói rằng Na Uy sẽ không gây khó dễ (“ne fera pas de difficultés”) về vấn đề này. Câu nói này được chính Ngoại trưởng Ihlen ghi nhận trong một biên bản, mà Tòa dịch từ tiếng Pháp như sau:

“The Danish Government has for some years past been anxious to obtain the recognition of all the interested Powers of Denmark's sovereignty over the whole of Greenland, and it proposes to place this question before the above-mentioned Committee at the same time. During the negotiations with the U.S.A. over the cession of the Danish West Indies, the Danish Government raised this question in so far as concerns recognition by the Government of the U.S.A., and it succeeded in inducing the latter to agree that, concurrently with the conclusion of a convention regarding the cession of the said islands, it would make a declaration to the effect that the Government of the U.S.A. would not object to the Danish Government extending their political and economic interests to the whole of Greenland.

The Danish Government is confident (he added) that the Norwegian Government will not make any difficulties in the settlement of this question.

I replied that the question would be examined.

14/7 - 19 Ih.”

“II. To-day I informed the Danish Minister that the Norwegian Government would not make any difficulties in the settlement of this question.

22/7 - 19 Ih.”

Tòa nhận xét về câu trả lời của Ihlen như sau (các đoạn đánh số là từ phán quyết của Tòa [10] ):

· Câu trả lời của Ihlen không có nghĩa là Ihlen công nhận Đan Mạch có chủ quyền Đông Greenland (tức là Ihlen có thể hiểu rằng ở thời điểm đó, Đan Mạch chưa coi là mình có chủ quyền Đông Greenland nhưng đang dự định mở rộng chủ quyền sang đó) (đoạn 188).

· Tuy nhiên câu trả lời của Ihlen là một lời hứa có tính cách ràng buộc Na Uy, bởi nó xuất phát từ một Ngoại trưởng, đứng trên cương vị đại diện nước mình để trả lời đại diện ngoại giao một nước khác, về một vấn đề thuộc thẩm quyền của ông ta. Tòa nhấn mạnh là kết luận này không thể nào chối cãi được (beyond dispute) (đoạn 192).

· Tòa coi tuyên bố của Ihlen là vô điều kiện và có tính cách quyết định (definitive) (đoạn 195).

· Do đó, Na Uy không được phản đối hay tranh giành (contest) chủ quyền của Đan Mạch ở Đông Greenland, và dĩ nhiên không được chiếm đóng phần đất nào ở Greenland (đoạn 202).

Nhận xét về phán quyết của Tòa

· Chỉ một lời nói (có biên bản) của một người có thẩm quyền đại diện quốc gia cũng có thể ràng buộc quốc gia đó về vấn đề chủ quyền. Điều này minh chứng rõ nguyên tắc “Luật pháp quốc tế không nhấn mạnh vào hình thức” mà ta đã thấy ở Phần II.

· Điều này cũng cho thấy là quan niệm “mọi sự thay đổi chủ quyền phải do quốc hội phê duyệt” là sai lầm. Quan niệm này đôi khi thấy trong các bài báo Việt Nam.

· Điều này cũng cho thấy là những bàn cãi trong cộng đồng và truyền thông tiếng Việt về gọi thư Phạm Văn Đồng là công hàm hay công thư là hoàn toàn vô bổ. Dù gọi là gì đi nữa thì nó cũng đã được ký tên và đóng dấu bởi một Thủ tướng, người đầy đủ thẩm quyền đại diện Chính phủ, và tuyên bố lập trường của Chính phủ.

Phần IV. Vụ án đền Preah Vihear

Tóm tắt vụ án

Preah Vihear là một ngôi đền cổ nằm sát biên giới Thái Lan-Cambodia. Đền này xây trên đỉnh một vách đá, cũng là đường phân thủy, chạy đại khái theo hướng đông-tây, nhìn về phía nam (vùng thấp) là Cambodia, nhìn về phía bắc (vùng cao) là Thái Lan.

Năm 1904, Thái Lan và Pháp (đại diện thuộc địa Cambodia) ký một hiệp ước về biên giới, theo đó thì sẽ dùng đường phân thủy làm biên giới ở khu vực này. Hai nước thành lập một ủy ban liên hợp để xác định biên giới. Áp dụng nguyên tắc đường phân thủy thì Preah Vihear thuộc Thái Lan. Tuy nhiên, năm 1907 sở địa đồ Pháp trình ủy ban liên hợp biên giới một địa đồ theo đó thì đường biên giới vẽ chệch về phía bắc đường phân thủy, khiến Preah Vihear nằm trong lãnh thổ Cambodia. Việc đó gây tranh chấp và được đưa ra phân xử tại Tòa án Quốc tế năm 1962. Tòa xử cho chủ quyền Preah Vihear thuộc về Cambodia [11].

Lý lẽ của Thái Lan

Cambodia chủ yếu dựa vào bản đồ 1907 để chứng tỏ chủ quyền của mình. Những lý lẽ chính của Thái Lan là:

1. Hai nước đã ký hiệp ước thỏa thuận nguyên tắc dùng đường phân thủy làm biên giới, theo đó thì Preah Vihear thuộc Thái Lan. Bản đồ 1907 là do Pháp vẽ và công bố, Thái Lan không dự phần, và đã vẽ sai vì không theo đúng đường phân thủy. Không có văn kiện chính thức nào nói rằng bản đồ này được ủy ban liên hợp 1904 chấp nhận.

2. Thái Lan đã liên tục thi hành chủ quyền ở đền Preah Vihear bằng cách chiếm đóng, quản lý.

Phán quyết của Tòa

Tòa chấp nhận rằng bản đồ 1907 “không có tính cách ràng buộc” ([11], trang 19). Tuy nhiên, nguyên tắc dùng đường phân thủy trong hiệp định biên giới 1904 cũng không ràng buộc nếu cả hai bên thỏa thuận không áp dụng nó trong trường hợp nào đó (“it was certainly within the power of the Governments to adopt such departures”) ([11], trang 20). Vấn đề là có sự thỏa thuận này không ở Preah Vihear, và điều này tùy thuộc vào ủy ban liên hợp 1904.

Tòa nhận xét rằng:

· Bản đồ 1907 đã được trình cho mọi thành viên ủy ban liên hợp 1904 và công bố rất trọng thể, gửi cho nhiều sứ quán Thái Lan và nhiều cơ quan quốc tế. Tuy nhiên, không có lời phản đối nào từ Thái Lan. Tòa cho rằng do đó Thái Lan đã đồng ý ngầm (acquiesce).

· Thái Lan nói rằng chỉ những viên chức thấp của họ thấy bản đồ 1907. Tòa cho rằng đó là lỗi của Thái Lan, nước này phải chịu hậu quả. Hơn nữa, sự sai biệt giữa đường biên giới và đường phân thủy quá rõ rệt nên không thể viện cớ lầm lẫn ([11], trang 24).

· Năm 1934-35, Thái Lan tự làm bản đồ lấy và nhận thấy sự sai biệt, nhưng vẫn không nói gì.

· Năm 1937, Thái Lan vẽ một bản đồ cho thấy Preah Vihear nằm trong lãnh thổ Cambodia.

· Năm 1947 Thái Lan và Pháp thương nghị ở Washington để hòa giải về các vấn đề biên giới, nhưng Thái Lan không đưa ra vấn đề Preah Vihear.

· Chuyến viếng thăm đền của bộ trưởng nội vụ Damrong năm 1930 như là khách của Pháp được coi là đặc biệt quan trọng. Năm 1930, một công sứ Pháp tại Cambodia lấy tư cách “chủ nhà” mời Hoàng thân Damrong, Bộ trưởng Nội vụ Thái Lan, tới thăm Preah Vihear và trương cờ Pháp tại đó. Ông này tới thăm mà không nói gì để khẳng định chủ quyền của Thái Lan. Tòa viết như sau: “Khó có thể tưởng tượng một sự khẳng định chủ quyền rõ ràng hơn thế từ phía Pháp. Việc đó đòi hỏi một phản ứng. Thái Lan đã không làm gì”, và việc đó cho thấy có vẻ Thái Lan đã “ngầm công nhận” (tacit recognition) chủ quyền của Cambodia trên Preah Vihear.

(When the Prince arrived at Preah Vihear, he was officially received there by the French Resident for the adjoining Cambodian province, on behalf of the Resident Superior, with the French flag flying. The Prince could not possibly have failed to see the implications of a reception of this character. A clearer affirmation of title on the French Indo-Chinese side can scarcely be imagined. It demanded a reaction. Thailand did nothing. Furthermore, when Prince Damrong on his return to Bangkok sent the French Resident some photographs of the occasion, he used language which seems to admit that France, through her Resident, had acted as the host country. The explanations regarding Prince Damrong's visit given on behalf of Thailand have not been found convincing by the Court. Looking at the incident as a whole, it appears to have amounted to a tacit recognition by Siam of the sovereignty of Cambodia (under French Protectorate) over Preah Vihear, through a failure to react in any way, on an occasion that called for a reaction in order to affirm or preserve title in the face of an obvious rival claim.)

· Về việc Thái Lan đã chiếm đóng hay quản lý Preah Vihear, Tòa cho là những hành động này thường là do chính quyền địa phương, và không đủ để triệt tiêu (cancel out) lối hành xử im lặng của chính quyền trung ương.

· Năm 1949, Pháp viết thư cho Thái Lan yêu cầu rút lính gác Thái khỏi đền, nhưng Thái Lan không trả lời.

· Năm 1954 Cambodia (mới độc lập) gửi một lá thư tương tự, nhưng Thái Lan không trả lời.

Vì những lý do trên Tòa phán quyết với đa số 9/3 rằng chủ quyền Preah Vihear thuộc về Cambodia.

Nhận xét về phán quyết Preah Vihear

· Thái Lan và Pháp (đại diện Cambodia) đã ký hiệp ước biên giới ghi rõ là đường biên giới đi theo đường phân thủy, và theo điều khoản đó thì Preah Vihear phải thuộc về Thái Lan.

· Thái Lan không hề ký một hiệp ước hay có một tuyên bố đơn phương nào từ bỏ chủ quyền Preah Vihear.

· Tuy nhiên, dùng nguyên tắc acquiescence (đồng ý ngầm), Tòa đã cho rằng Thái Lan không có chủ quyền vì đã nhiều lần không phản ứng trước những hành động hay tài liệu có thể hiểu là khẳng định chủ quyền của Pháp hay Cambodia.

· Tòa cho rằng hành động chiếm đóng hay quản lý của Thái Lan không đủ để triệt tiêu thái độ im lặng, ngầm đồng ý của nước này khi cần phải có phản ứng.

KẾT LUẬN

    Về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, Tòa Án Quốc Tế dựa vào nội dung và ý định trong các văn kiện, cũng như vào các hành động và sự kiện, hơn là vào hình thức văn kiện.
    “Ý định” phải hiểu là ý định diễn tả trong văn kiện, chứ không phải ý định ngầm của kẻ muốn giấu giếm hay ngần ngại thổ lộ ý định thật như có người đã giải thích.
    Những nguyên tắc “chỉ đọc trong bốn góc của văn bản”, “phải hiểu cách nào ít hại nhất cho người viết” không thể đánh bại một cách hiểu hợp lý (xem cách Tòa diễn giải lá thư của Johor trong vụ Pedra Branca).
    Chỉ một lời nói (có biên bản) của một đại diện có thẩm quyền (như ngoại trưởng) cũng có thể ràng buộc một quốc gia về vấn đề chủ quyền (xem vụ Đông Greenland).
    Acquiescence - đồng ý ngầm, không nói gì khi cần thiết phải nói, tức là khi nước khác khẳng định chủ quyền trên đất của mình hay đất có tranh chấp bằng văn kiện hay hành động - cũng có tác dụng như là lời nói hay văn kiện. Điều này được thấy rõ trong vụ án đền Preah Vihear, khi Thái Lan thua kiện dù không hề có tuyên bố gì từ bỏ chủ quyền.
    Thư Phạm Văn Đồng không phản đối khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa - Trường Sa, nên có thể bị coi là acquiescence.
    Hơn thế nữa, thư Phạm Văn Đồng có thể coi là đã tán thành rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.
    Thư Phạm Văn Đồng không thể coi là một hiệp ước hay văn kiện chính thức nhường chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa cho Trung Quốc. Do đó, dùng những công ước về hiệp ước quốc tế để tìm hiểu tác dụng thư này chưa chắc sẽ đưa đến những kết luận chính xác.
    Thư Phạm Văn Đồng có lẽ không đủ để gây ra estoppel khiến Việt Nam không có quyền tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa.
    Tuy nhiên, nếu thư Phạm Văn Đồng là một yếu tố khiến Trung Quốc giúp Việt Nam dân chủ cộng hòa trong chiến tranh Việt Mỹ, gây tổn thương cho binh lính hay nhân viên Trung Quốc trong cuộc chiến đó, thì có thể estoppel sẽ được áp dụng [9]. (Điều tai hại là chính người Việt cũng có khi đưa ra lý lẽ này để giải thích thư Phạm Văn Đồng!)
    Tuy nhiên, tập trung vào khía cạnh estoppel của thư Phạm Văn Đồng là một việc sai lầm. Nguy hiểm chính của nó không ở chỗ đó.
    Kết hợp thư Phạm Văn Đồng với các hành động và thái độ khác của Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời gian 1954-75, nhất là sự im lặng trong trận chiến Hoàng Sa 1974, nếu đem xử về chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa ở Tòa án Quốc tế sẽ có khả năng không nhỏ là tòa sẽ xử rằng từ 1954 tới 1975 Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chấp nhận chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa thuộc về Trung Quốc.
    Ngay cả khi Tòa cho rằng thư Phạm Văn Đồng không có ý định nói gì về chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa, kết luận 12 ở trên vẫn chính xác (vì lý do đã nói ở kết luận 5).
    Nếu đem xử về chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa ở Tòa án Quốc tế mà đứng trên quan điểm Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn toàn là kế tục (continuation, successor) của Việt Nam dân chủ cộng hòa và không kế tục quốc gia nào khác, thì có khả năng không nhỏ là Việt Nam thua kiện và mất hẳn chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa.

CHÚ THÍCH VÀ TÀI LIỆU

[1] Ngay sau khi lá thư của Thủ tướng Việt Nam dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng được gửi đi, báo Nhân dân gọi nó là “công hàm”. Từ này sau đó được dùng rộng rãi. Gần đây truyền thông trong nước thường gọi nó là công thư. Các nhà nghiên cứu và truyền thông ngoại quốc thường chỉ gọi là “Phạm Văn Đồng letter”, cũng đôi khi gọi là diplomatic note. Trong cộng đồng Việt Nam, cách gọi lá thư gần đây đã gây nhiều tranh cãi, nhiều người cho rằng không gọi nó là công hàm tức là cố ý giảm thiểu tầm quan trọng hay chính thức của nó. Bài này sẽ theo tập tục ngoại quốc và gọi là “thư Phạm Văn Đồng”. Như bài này sẽ cho thấy, dù gọi nó là gì thì giá trị pháp lý của nó cũng không thay đổi.

[2] www.state.gov/documents/organization/58832.pdf

[3] Nguyen Le Ha, Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa,

http://boxitvn.blogspot.fr/2014/07/gia-tri-phap-ly-cong-ham-pham-van-ong.html

[4] Cao Huy Thuần, Công hàm Phạm Văn Đồng - Góp ý về việc giải thích. http://www.diendan.org/viet-nam/gop-y-ve-viec-giai-thich-cong-ham-pham-van-dong.

[5] V. Lowe, International Law, OUP, 2007 pp. 116-117

[6] International Court Of Justice (2008) Case Concerning Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore), Judgment of 23 May 2008. http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14492.pdf

[7] Y. Tanaka (2008) Passing of Sovereignty: the Malaysia/Singapore Territorial Dispute before the ICJ. http://www.haguejusticeportal.net/index.php?id=9665

[8] Việc Tòa không chấp nhận ba thỉnh cầu của Singapore coi đáp thư là văn kiện chính thức từ bỏ chủ quyền, là ràng buộc hay gây estoppel có thể hơi khó hiểu nên cần biết chính xác là câu hỏi trong lá thư của Anh nói gì. Nguyên văn câu hỏi như sau: “It is [now] desired to clarify the status of Pedra Branca. I would therefore be most grateful to know whether there is any document showing a lease or grant of the rock or whether it has been ceded by the Government of the State of Johore or in any other way disposed of.” Câu hỏi đó không nói rằng Anh có hay đòi chủ quyền Pedra Branca, mà chỉ hỏi là Johor có còn giữ chủ quyền hay không, và do đó Tòa đã đi tới những kết luận như trên.

[9] Trong luật quốc tế, estoppel là sự ngăn cấm một nước (A) không được có những hành động mâu thuẫn gây hại cho nước (B) khác, cụ thể là không thể làm ngược những gì mình đã nói. Estoppel đòi hỏi ba yếu tố: thứ nhất, lời tuyên bố của A phải rõ ràng, không thể hiểu lầm; thứ hai, lời tuyên bố phải tự nguyện, vô điều kiện, và bởi người có thẩm quyền; và cuối cùng, B phải làm gì thiệt cho mình hoặc lợi cho A vì đã thực lòng tin vào lời tuyên bố của A. (First, the statement creating the estoppel must be clear and unambiguous; second, the statement must be voluntary, unconditional, and authorized; and finally, there must be good faith reliance upon the representation of one party by the other party either to the detriment of the relying party or to the advantage of the party making the representation.) (M.L. Wagner (1986) Jurisdiction by Estoppel in the International Court of Justice. California Law Review Volume 74, 1777-1804.)

[10] Permanent Court of International Justice (1933) Legal Status of Eastern Greenland - Denmark v. Norway, Judgment. http://www.worldcourts.com/pcij/eng/decisions/1933.04.05_greenland.htm

[11] International Court Of Justice (1962) Case concerning the temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), http://www.icj-cij.org/docket/files/45/4871.pdf.

[12] Article ler: La frontière entre le Siam et le Cambodge part, sur la rive gauche du Grand Lac, de l'embouchure de la rivière Stung Roluos, elle suit le parallèle de ce point dans la direction de l'est jusqu'à la rencontre de la riière Prék Kompong Tiam, puis, remontant vers le nord, elle se confond avec le méridien de ce point de rencontre jusqu'à la chaîne de montagnes Pnom Dang Rek. De là elle suit la ligne de partage des eaux entre les bassins du Nam Sen et du Mékong, d'une part, et du Nam Moun, d'autre part, et rejoint la chaîne Pnom Paclang dont elle suit la crête vers l'est jusqu'au Mékong. En amont de ce point, le Mékong reste la frontière du royaume de Siam, conformément à l'article ler du traité du 3 octobre 1893. (theo [10], trang 14)

Phạm Quang Tuấn
Theo boxitvn

Carl Thayer: Hai toan tính của Trung Quốc khi dời giàn khoan

Đăng bởi Anh vào Thứ Tư

Chuyên gia hàng đầu về Biển Đông Carl Thayer nhận định việc Trung Quốc dịch chuyển giàn khoan Hải Dương 981 về đảo Hải Nam có hai mục tiêu, gồm ngăn Việt Nam kiện ra tòa quốc tế và ngăn Việt Nam bắt tay với các nước khác.

Việc Trung Quốc điều giàn khoan 981 ra Biển Đông xâm phạm quyền chủ quyền của Việt Nam và gây trở ngại cho tiến trình đàm phán giải quyết tranh chấp. Ảnh: Chinanews.

Trao đổi với VnExpress, Giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia cho rằng việc Trung Quốc tuyên bố đưa giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi Hoàng Sa là vì nước này muốn tránh những rủi ro khi duy trì hơn một trăm tàu thuyền trong lúc cơn bão Rammasun (Thần Sấm) đang đi vào Biển Đông. Khi đưa giàn khoan vào đặt trái phép hồi tháng 5, phía Trung Quốc nói nó sẽ hoạt động đến 15/8.

"Giàn khoan Hải Dương 981 sẽ trở lại Biển Đông sau mùa bão. Câu hỏi chính là họ đặt ở đâu", ông Thayer nhấn mạnh. "Trung Quốc đóng các giàn khoan dầu để tìm dầu khí và sẽ sử dụng nó để khai thác cho nền kinh tế nước này".

Với việc dời giàn khoan, Trung Quốc không cần triển khai các tàu thuyền ở khu vực này nữa. Việt Nam cũng không cần duy trì tàu của Cảnh sát biển và Kiểm ngư. Như vậy là cuộc khủng hoảng hiện nay sẽ chấm dứt, ông Thayer lập luận.

Thayer cho rằng quyết định dịch chuyển giàn khoan của Trung Quốc phản ánh tính toán của Bắc Kinh, đó là hoàn thành các hoạt động của giàn khoan trước mùa bão và không buộc hoạt động của Hải Dương 981 với một cam kết vô hạn. Tuy nhiên giàn khoan này sẽ được tiếp tục sử dụng như một vũ khí của Trung Quốc để "tiếp tục cuộc tấn công về chính trị", ông phân tích.

Theo giáo sư, sau khi giàn khoan dời đi, một lúc nào đó, Trung Quốc và Việt Nam sẽ bắt đầu những thảo luận tìm cách cải thiện quan hệ song phương. Điều này có thể đồng nghĩa với khả năng Việt Nam sẽ kiềm chế không kiện Trung Quốc nữa, và cũng sẽ kiềm chế trong hợp tác với Mỹ và Nhật Bản.

"Tựu chung, động thái dịch chuyển giàn khoan của Trung Quốc sẽ giúp nước này biện hộ rằng tranh chấp ở Biển Đông chỉ liên quan đến hai nước và loại trừ sự tham gia của bất kỳ nước bên ngoài nào", Thayer cho biết.

Hành động của Trung Quốc cũng được lên kế hoạch để chặn trước những nỗ lực của Mỹ và các đồng minh trong việc đưa vấn đề căng thẳng ở Biển Đông ra Diễn đàn An ninh Khu vực ARF tháng tới tại Myanmar.

Đánh giá về dài hạn, ông Thayer cho rằng, Trung Quốc không từ bỏ tham vọng kiểm soát Biển Đông trong phạm vi đường chín đoạn. Bắc Kinh cũng sẽ tiếp tục các hoạt động khai hoang như đang làm ở Trường Sa, và tăng cường áp lực với Philippines.

Trung Quốc có thời gian cho đến nửa đầu năm 2016, khi Tòa án Trọng tài, nơi tiếp nhận vụ kiện của Philippines, dự kiến đưa ra phán quyết. Trung Quốc có mưu toan củng cố sự hiện diện của họ ở Biển Đông nhiều hết mức có thể trước thời điểm đó.

Giàn khoan Hải Dương 981 cùng các tàu hộ tống của Trung Quốc đêm qua bắt đầu di chuyển từ vị trí đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam về phía đảo Hải Nam. Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay ra thông cáo xác nhận việc giàn khoan Hải Dương 981 hoàn tất hoạt động gần quần đảo Hoàng Sa và dịch chuyển về một dự án mới.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình hôm nay yêu cầu Trung Quốc không đưa giàn khoan Hải Dương 981 quay trở lại hoặc đưa bất cứ giàn khoan nào khác vào khu vực thuộc vùng biển của Việt Nam, được quy định bởi Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Ông Bình một lần nữa khẳng định hoạt động của giàn khoan 981 và các tàu hộ tống của Trung Quốc trong hơn hai tháng qua là hoàn toàn bất hợp pháp, vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế.

Ủng hộ của quốc tế cho Việt Nam

Từ khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ đầu tháng 5, nhiều nước đã lên tiếng phản đối hành động của Trung Quốc, ủng hộ lập trường của Việt Nam.

Trong chuyến công du của Thủ tướng Việt Nam tới Manila hồi tháng 5, chính phủ Philippines cho biết kiên quyết phản đối và kêu gọi các nước, cộng đồng quốc tế tiếp tục lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động xâm phạm, triệt để tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, các nguyên tắc của DOC.

Philippines cũng ủng hộ Việt Nam cân nhắc việc kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế vì những hành động xâm phạm chủ quyền.

Trong Diễn đàn an ninh khu vực Shangri-La, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tuyên bố dành sự ủng hộ tối đa cho Đông Nam Á, nơi Việt Nam và một số nước đang có tranh chấp chủ quyền biển với Trung Quốc, nhằm đảm bảo tự do hàng hải và hàng không trong khu vực. Nhật Bản sẽ cấp các tàu tuần tra cho Việt Nam vào đầu năm sau, đồng thời giúp đỡ đào tạo và chia sẻ thông tin với lực lượng cảnh sát biển Việt Nam.

Trong hai tháng qua, nhiều quan chức cấp cao chỉ trích hành động khiêu khích của Trung Quốc đối với Việt Nam gần khu vực đặt giàn khoan trái phép. Hôm 10/7, Thượng viện Mỹ đã thông qua nghị quyết về Biển Đông, yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 và lực lượng hàng hải liên quan khỏi Hoàng Sa. Các nghị sĩ Mỹ cũng đề nghị Trung Quốc kiềm chế các hoạt động hàng hải trái với Quy tắc quốc tế về phòng ngừa đâm va trên biển, và trở về nguyên trạng như trước ngày 1/5.
Việt Anh

Theo VnExpress

Lý giải sự suy giảm của các cuộc chiến tranh lớn

Đăng bởi Anh vào Thứ Hai

Khoảng đầu năm 1989 tôi đã xuất bản cuốn sách Rút lui khỏi ngày tận thế: Sự lỗi thời của Chiến tranh nói về các cuộc chiến tranh giữa các nước phát triển. Nhà nghiên cứu lịch sử quân sự và ngoại giao – Michael Howard đã phê bình quyển sách này với một thái độ hết sức hoài nghi về luận điểm chính của nó, đồng thời đưa ra một lời khuyên hữu ích rằng “người đọc cẩn trọng sẽ kiểm tra xem hầm tránh bom của mình có còn sử dụng được không”. Nhưng sau đó, vào năm 1991, chính Michael Horward đã nói “có khả năng các cuộc chiến tranh theo nghĩa là những xung đột vũ trang lớn giữa các xã hội có trình độ phát triển cao sẽ không tái diễn, và một khuôn khổ ổn định cho trật tự thế giới sẽ được hình thành một cách vững chắc”.[i]

Hai năm sau đó, nhà sử học đồng thời là nhà phân tích quân sự John Keegan đã kết luận trong tác phẩm Lịch sử Chiến tranh rằng loại hình chiến tranh chủ yếu mà ông nghiên cứu có thể đang ở giai đoạn cáo chung:
Sau khi dành cả đời nghiên cứu về vấn đề này, tiếp xúc với những người trong cuộc, đi thăm nhiều điểm chiến sự và theo dõi các tác động của chiến tranh thì theo tôi, chiến tranh dường như không còn là một phương tiện đáng mong muốn hay hiệu quả, chứ chưa nói là hợp lý, để con người giải quyết các bất đồng của mình.[ii]

Vào cuối thế kỷ 20, Mary Kaldor cho rằng “sự tàn bạo của các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia có thể đã trở thành dĩ vãng” và trước thềm thế kỉ mới, Robert Jervis kết luận rằng chiến tranh giữa các cường quốc “sẽ không xảy ra trong tương lai” hay theo cách diễn đạt của Jeffrey Record thì chiến tranh có thể “biến mất hoàn toàn”.[iii]

Từ đó đến nay, thế giới dường như vẫn tiếp tục, thậm chí còn tăng tốc công cuộc rút lui khỏi ngày tận thế – một từ đã bắt đầu mang hàm ý khá lạ trong hơn 15 năm qua. Và, mặc dù có hơi chủ quan nhưng chẳng còn ai quan tâm đến việc bảo quản những hầm tránh bom của mình nữa.

Không chỉ các quốc gia phát triển đã tránh được chiến tranh với nhau trong suốt thời kì Chiến tranh lạnh mà thực ra có rất ít các cuộc chiến tranh trên bình diện quốc tế dưới bất kỳ hình thức nào từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Chỉ có một ngoại lệ thực sự đáng chú ý từ năm 1975 (và đây cũng là một ngoại lệ quan trọng), đó là cuộc chiến đẫm máu giữa Iran và Iraq kéo dài từ năm 1980 đến năm 1988. Ngoài ra, mặc dù xung đột vũ trang giữa chính phủ Israel và quân nổi dậy Palestine vẫn diễn ra thường xuyên nhưng từ sau năm 1973 đến nay, không có quốc gia Arập hay Hồi giáo nào muốn xung đột leo thang thành chiến tranh quốc tế bằng cách gửi binh lính trực tiếp tham chiến. Đồng thời, các cuộc nội chiến, chiến tranh thực dân và chiến tranh ý thức hệ dường như cũng trong quá trình suy giảm.

Thái độ đối với chiến tranh đang thay đổi

Theo tôi, hiện tượng đáng chú ý này chủ yếu bắt nguồn từ việc thái độ đối với giá trị và tính hiệu quả của chiến tranh đã thay đổi, đặc biệt là trong thế kỷ vừa qua, và điểm mấu chốt của hiện tượng này nằm ở ý đồ của những nhà truyền bá tư tưởng. Một sự thất vọng sâu sắc đối với chiến tranh đã xuất hiện ở châu Âu vào thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới thứ nhất. Điều này không phải bởi cuộc chiến đó hết sức tàn phá và hao tốn của cải mà mà là vì thành công của những nhà truyền bá tư tưởng của phong trào phản chiến trước cuộc đại chiến thế giới này. Họ đã đưa ra một lập luận vào thời điểm đó được coi là mới mẻ rằng chiến tranh, mà theo ý họ chủ yếu là chiến tranh giữa các nước phát triển, phải bị loại bỏ.[iv] Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ở châu Âu gần như do Adolf Hitler một tay gây ra bởi lẽ bối cảnh lịch sử lúc đó không cho thấy sự cần thiết phải có một cuộc chiến trên lục địa khác ở khu vực này và các nước lớn cũng không có mâu thuẫn dẫn tới xung đột. Nguyên nhân của Chiến tranh Lạnh, theo tôi, chủ yếu là do sự sùng bái ý thức hệ về bạo lực cách mạng và chiến tranh giai cấp quốc tế của những người theo chủ nghĩa Cộng sản và điều này được coi là sự bành trướng đe dọa nền dân chủ tư bản phương Tây. Tuy nhiên, mặc dù có mâu thuẫn quyết liệt về ý thức hệ giữa thế giới Cộng sản và phi Cộng sản và cho dù đã xảy ra cuộc chiến tranh đại diện ở Triều Tiên – cuộc chiến đã khiến người ta mãi mãi mất lòng tin vào thăm dò quân sự hạn chế như là một kỹ thuật thúc đẩy cách mạng, một cuộc chiến tranh lớn chưa bao giờ thực sự nằm trong tính toán của các bên.[v]

Trong phần lớn tiến trình lịch sử, chiến tranh được chấp nhận như một quy luật tự nhiên, không thể tránh được và thường là đáng mong muốn của xã hội loài người. Tuy nhiên, trong thế kỷ qua, dường như chiến tranh dang dần đánh mất sự chấp nhận tự nhiên đó và đang trở nên lỗi thời giống như chế độ nô lệ hay các cuộc đấu tay đôi trước đó. Đặc biệt, trong khi chiến tranh theo nghĩa vật chất vẫn hoàn toàn có thể xảy ra, thì dường như chiến tranh lớn – chiến tranh giữa các nước phát triển – đang ngày càng khó xảy ra hơn khi mà các nước này nắm được vận mệnh của chính mình và quyết định rằng chiến tranh không nên/ không nhất thiết là một phần trong mối quan hệ của họ. Hiện nay, chiến tranh giữa các cựu thù trong thế giới phát triển, chẳng hạn như giữa Pháp và Đức đã trở thành một sự vô lý không thể tưởng tượng được – thậm chí không phải là một lựa chọn có lý trí, và nếu cuộc chiến này có xảy ra thì cũng sẽ bị bác bỏ không phải vì đó là điều không khôn ngoan mà là vì nó hết sức ngớ ngẩn.[vi]

Sự giảm tàn hiển nhiên của chiến tranh, hoặc ít nhất là của những loại hình chiến tranh phổ biến nhất, có thể là một phần của xu hướng lớn hơn, tách biệt với sự chấp nhận một số hình thức giết người có chủ ý, ít nhất là trong thế giới phát triển. Ví dụ như tục giết trẻ sơ sinh để làm vật hiến tế đã giảm đi trong những thế kỷ qua, điều mà theo Barbara Ehrenreich đã từng là “tập quán phổ biến trong nhiều nền văn hóa khác nhau, từ các bộ tộc nhỏ đến các nền văn minh đô thị vĩ đại”.[vii] Một hiện tượng mới hơn đã được David Garfield tóm lược lại như sau:

Hiện tại mặc dù không hoàn toàn đồng thuận với nhau nhưng vẫn có có một sự nhất trí tương đối giữa các nhà sử học rằng thời kì từ năm 1700 đến nay đã chứng kiến sự thay đổi trong thái độ đối với bạo lực, sự ác cảm tăng lên đối với tất cả các thể loại tội ác, và sự xuất hiện của một hệ thống quan điểm mới làm thay đổi bản chất của các mối quan hệ và lối hành xử giữa con người với nhau.[viii]

Trước hết, rõ ràng là việc thực thi công lý một cách phi chính thức – do các đội dân phòng, các nhóm phân biệt chủng tộc hay các nhóm vũ trang – đã giảm đi. Các hình thức tử hình từng được chấp nhận trước đây như để giải quyết những mối thù truyền kiếp hay nợ máu nhìn chung cũng ít xuất hiện hơn trong nhiều nền văn hóa. Donald Horowitz cũng ghi nhận sự suy giảm rõ nét và có lẽ là có liên quan đến nhau của những cuộc bạo động chết người ở phương Tây.[ix] Các cuộc đấu tay đôi từng diễn ra thường xuyên trong một số tầng lớp xã hội nhất định cũng đã trở nên lạc hậu. Việc kết án tử hình những kẻ giết người cũng đã được xóa bỏ ở hầu hết các nước phát triển, và sự tra tấn thể xác từng rất phổ biến cũng đã ngừng được áp dụng. Cuối cùng, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng giết người hay việc sử dụng bạo lực với con người nói chung phổ biến hơn ở những thế kỉ trước, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.[x]

Những lý giải khác cho sự suy giảm của chiến tranh

Khi nhấn mạnh vào sự thay đổi thái độ đối với chiến tranh để giải thích sự suy giảm của nó, tôi đồng ý với nhận xét của Robert Dahl rằng:

Do bận tâm đối với sự vững chắc của lý thuyết và không hài lòng với “sự mềm dẻo” của các mô tả, khái quát và lý giải lịch sử, hầu hết các nhà khoa học xã hội đã quay lưng lại với sự vận động mang tính lịch sử của các ý tưởng. Kết quả là, các lý thuyết của họ, dù “vững chắc” đến đâu, cũng đã bỏ sót một biến số mang tính lý giải quan trọng và thường dẫn tới những giản hóa luận ngây thơ.[xi]

Theo Dahl, vì niềm tin và tư tưởng thường là “một biến số độc lập chủ yếu”, việc lờ đi những thay đổi trong tư tưởng, ý thức hệ và thái độ đồng nghĩa với việc bỏ qua những điều quan trọng. Nghĩa là, các tư tưởng luôn để lại những hậu quả.[xii]

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một số cách lý giải khác cho sự suy giảm của chiến tranh. Một vài quan điểm trong số này nhấn mạnh ảnh hưởng của công nghệ, đặc biệt là vũ khí hạt nhân, số khác nhấn mạnh tác động của phát triển kinh tế, chi phí chiến tranh tăng lên, sự trỗi dậy của thể chế dân chủ, gia tăng thương mại quốc tế hay là vai trò của các thể chế quốc tế.

Vũ khí hạt nhân

Trong quá trình đi tìm lời giải thích cho bước ngoặt không gắn với sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử – sự biến mất tuyệt đối vô tiền khoáng hậu của các cuộc chiến tranh lớn trong nửa thế kỉ qua – nhiều nhà phân tích đã chỉ ra nguyên nhân chính là phát minh ngẫu nhiên về vũ khí hạt nhân vào năm 1945 và nhấn mạnh vào sự khiếp sợ đặc biệt mà nó mang lại.[xiii] Những phân tích này áp dụng cái được gọi là “giả định phản thực tiễn của Churchill”, một giả định ghi nhận sự xuất hiện của một “nghịch lý kỳ lạ” và một “sự châm biếm tuyệt vời” từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, theo đó vũ khí hạt nhân bao phủ “một khu vực nguy hiểm chết người” với hậu quả tiềm tàng rằng “an toàn sẽ trở thành mầm mống khủng bố đáng sợ, và sự sinh tồn trở thành anh em sinh đôi của sự hủy diệt”.[xiv] Nói một cách ngắn gọn súc tích và ít trau chuốt hơn, giả định phản thực tiễn của Churchill cho rằng nếu vũ khí hạt nhân không được phát minh ra thì khó mà tránh khỏi thảm họa. Có nghĩa là những người điều hành thế giới sau năm 1945 về cơ bản là quá bất cẩn và quá xem thường tính mạng con người, chỉ thích lao vào xung đột, quá bạo ngược, quá háo hức với sự tận diệt, quá kém cỏi, và/hoặc là ngớ ngẩn đến mức không thể tránh không đâm đầu vào hoặc bị cuốn vào một cuộc chiến tranh lớn khi mà theo dự đoán của họ, điều tồi tệ nhất có thể xảy ra chắc cũng chỉ bằng sự hủy diệt thảm khốc mà họ vừa trải qua trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Vì vậy những người căm ghét chiến tranh có lẽ nên nghe theo lời khuyên của Kenneth Waltz và “cám ơn sự phù hộ của vũ khí hạt nhân” hay, theo Elspeth Rostow thì vũ khí hạt nhân xứng đáng giành được giải Nobel hòa bình.[xv]

Tôi nghĩ lập luận ngược lại giả thuyết của Churchill có vẻ hợp lý hơn. Nghĩa là, giả sử vũ khí nhạt nhân không được phát minh ra thì lịch sử của thế giới có lẽ sẽ diễn ra giống như nó đã từng diễn ra.[xvi] Nói một cách cụ thể là vũ khí hạt nhân và khả năng tàn phá của nó không nhất thiết đã khiến các nhà lãnh đạo thế giới từ năm 1945 quá lo ngại sự lặp lại của những điều đã diễn ra trong Chiến tranh thế giới thứ hai (hoặc của Chiến tranh thế giới thứ nhất). Suy cho cùng, phần lớn các nhân vật này chính là những người trực tiếp lãnh đạo hoặc truyền nhân của những người đã cố gắng một cách tuyệt vọng, điên cuồng, thống thiết và cuối cùng là bất thành trong việc ngăn chặn Chiến tranh thế giới thứ hai. Họ làm như vậy một phần do sợ hãi – đúng hơn là do họ cảm thấy không thoải mái khi phát hiện ra rằng một cuộc đại chiến khác có thể sẽ còn tệ hơn Chiến tranh thế giới thứ nhất.[xvii] Tôi không hiểu nổi bằng cách nào mà những con người với nhận thức như vậy, vừa trải qua những sự kiện sống động và kinh hoàng như vậy lại trở thành những người, nói nhẹ nhất thì là bất cẩn, mà nặng lời nhất thì là háo hức muốn lặp lại sự thảm khốc đó. Nhưng thực chất đó chính là những gì mà giả định phản thực tiễn của Churchill muốn chúng ta tin.

Và bên cạnh đó cũng có thêm một vài yếu tố quan trọng gây nên sự thoái trào của chiến tranh. Thế giới từ năm 1945 được lãnh đạo bởi những người chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và nhìn chung thì họ hài lòng với nguyên trạng lãnh thổ. Hơn thế nữa, mặc dù ý thức hệ Cộng sản – yếu tố gây lo ngại nhất trong suốt thời kì Chiến tranh Lạnh – chọn đường lối bạo lực, nó thực ra lại nhấn mạnh vào cách mạng nội khối và trong nước chứ không hẳn là một cuộc xâm lược vượt ra ngoài biên giới quốc gia, và đồng thời cũng phải kể đến sự nhấn mạnh vào sách lược đầy thận trọng của Lenin.

Tất nhiên những lập luận này không nhằm phủ nhận rằng việc hoạch định một cuộc chiến tranh hạt nhân là quá kinh khủng và ghê gớm đối với trí óc, đặc biệt là tốc độ phá hủy trên quy mô lớn khủng khiếp của nó. Và tôi cũng không phủ nhận rằng những nhà hoạch định chính sách trong cả giai đoạn khủng hoảng và không khủng hoảng đều nhận thức rõ về những thảm họa mà chiến tranh hạt nhân có thể gây ra. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng sự khủng khiếp của việc lặp lại Chiến tranh thế giới thứ hai cũng để lại ấn tượng không kém và những người lãnh đạo thực chất đang bằng lòng với hiện trạng của thế giới sẽ cố gắng đấu tranh để tránh bất kỳ điều gì mà họ cảm thấy có thể dẫn đến thảm họa. Một cú nhảy từ cửa sổ tầng thứ 50 của một tòa nhà có lẽ sẽ đáng sợ hơn là một cú nhảy từ tầng 5, nhưng bất kì ai thấy rằng cuộc sống này đáng sống, dù chỉ ở mức tối thiểu, sẽ không muốn làm bất cứ hành động nào nói trên.[xviii]

Tuy nhiên, trong khi hình ảnh những đám mây hình nấm không nhất thiết khiến các nhà lãnh đạo thế giới từ sau năm 1945 phải thận trọng về một cuộc đại chiến, có những hoàn cảnh giả định khác trong đó việc sở hữu vũ khí hạt nhân có thể tỏ ra hữu ích – ví dụ như sự xuất hiện một kẻ cuồng tín may mắn, khôn khéo, liều lĩnh và hung bạo khác như Hitler. Hơn thế nữa, trong nhiều trường hợp vũ khí hạt nhân có thể làm nên sự khác biệt. Ví dụ như Iraq có thể đã không tấn công Iran vào năm 1980 hoặc Kuwait năm 1990 nếu như hai nước này có vũ khí hạt nhân để đáp trả. Lập luận ở đây không phải là phủ nhận việc vũ khí hạt nhân có thể tạo nên sự khác biệt, nhưng sự tồn tại của nó chưa hẳn cần thiết để tạo nền hòa bình lâu dài mà các nước phát triển đã được hưởng hơn một nửa thế kỷ qua.

Phát triển kinh tế và cách mạng công nghiệp

Trong nỗ lực đánh giá sự trỗi dậy của tinh thần chống chiến tranh trong thế giới phát triển,

Michael Howard xem sự phát triển kinh tế như một nhân tố. Ông nhận xét rằng tại một thời điểm, các nước phát triển đã từng được tổ chức thành “xã hội của các chiến binh”, trong đó chiến tranh được xem là “số phận cao cả nhất của loài người”. Nhưng ông cho rằng điều này đã bị thay đổi bởi quá trình công nghiệp hóa khi nó “cuối cùng đã sản sinh ra một xã hội không chuộng chiến tranh mà tập trung vào sự thịnh vượng về vật chất hơn là những bản anh hùng ca”.[xix]

Vấn đề chính của lý luận này, mà có vẻ Howard cũng nhận ra, là tiến trình công nghiệp hóa có quá trình rất phức tạp lắt léo. Giai đoạn giữa 1750 và 1900, các nước phát triển đã trải qua cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển vượt bậc của kinh tế, sự trỗi dậy của tầng lớp trung lưu, sự tiến bộ đáng kể của giao thông và truyền thông, tỉ lệ người biết chữ tăng nhanh, và sự lớn mạnh của thương mại quốc tế. Tuy nhiên, nếu hiện tượng này khuyến khích một số người từ bỏ tinh thần chiến tranh, thì đồng thời nó dường như cũng khiến một số người lại càng yêu thích chiến tranh hơn. Chính Horward đã theo dấu sự tồn tại dai dẳng, thậm chí là trỗi dậy, của tinh thần quân phiệt khi nó kết hợp với làn sóng dân tộc bành trướng chủ nghĩa trong giai đoạn châu Âu tiến hành công nghiệp hóa ở thế kỷ 19. Như vậy công nghiệp hóa có thể tác động đến chủ nghĩa hiếu chiến cũng nhiều như ảnh hưởng của nó lên chủ nghĩa hòa bình. Howard chưa bao giờ thật sự lý giải bằng cách nào hay tại sao quá trình công nghiệp hóa lại chắc chắn dẫn đến tinh thần phản chiến. Thay vào đó, nỗi kinh hoàng và các cuộc tàn sát gắn liền với quá trình công nghiệp hóa lại được ông quy vào “những vấn đề ngày càng lớn của xã hội công nghiệp”.[xx]

Phí tổn cho chiến tranh ngày càng tăng

Carl Kaysen đã kết luận rằng chiến tranh quân sự đang trở nên lỗi thời, và ông đã phát triển một luận điểm tương tự với Howard, nhưng chi tiết hóa hơn về tiến trình, đặc biệt là về khía cạnh kinh tế của nó. Ông lý luận rằng “trong phần lớn lịch sử nhân loại, xã hội được cơ cấu theo định hướng chiến tranh mang lại lợi ích cho người chiến thắng, cả về mặt kinh tế lẫn chính trị”. Tuy nhiên “những biến đổi sâu sắc … mà cuộc Cách mạng Công nghiệp mang lại đã thay đổi các giá trị trong tính toán đó”, dẫn đến việc lợi ích tiềm năng của chiến tranh giảm đi, trong khi phí tổn tiềm năng tăng lên.[xxi] Kaysen có xu hướng giảm thiểu những phí tổn kinh tế của chiến tranh trước kỷ nguyên hiện đại, nhưng rất nhiều nghiên cứu cho thấy chi phí này là đặc biệt cao cho cả người thắng và kẻ thua. Dù sao thì khái niệm “chiến thắng phải trả giá đắt” cũng đã xuất hiện từ cuộc chiến năm 279 Trước Công nguyên.

Theo Frederick Đại đế, nước Phổ đã mất 1/9 dân số trong Cuộc chiến 7 năm, một tỉ lệ cao hơn hẳn tổn thất của bất kỳ quốc gia nào tham chiến trong các cuộc chiến tranh của thế kỷ 20. Dân số Đức giảm khoảng 15 – 20% trong Cuộc chiến 30 năm, và theo như Kalevi Holsti tính toán, “xét trên số thương vong trực tiếp và gián tiếp, theo tỉ lệ của dân số” thì đó là cuộc xung đột vũ trang mang tính tàn phá lớn nhất của Châu Âu.[xxii] Lawrence Keeley dẫn chứng rằng các cuộc chiến cổ xưa thậm chí còn có tỉ lệ chết chóc cao hơn cả một trong hai cuộc Chiến tranh thế giới.[xxiii] Rất nhiều cuộc chiến tại châu Âu trước đây kéo dài đến khi các bên tham chiến đều cạn kiệt về kinh tế mới thôi. Phân tích của Richard Kaeuper về những tác động của hàng thập kỷ chiến tranh trong cuối thời trung đại đã ghi nhận tình trạng kiệt quệ về tài sản, các ngân hàng phá sản, thương mại đình trệ, dân số suy giảm trên diện rộng, các khu đất trồng trọt biến mất, sản xuất sụt giảm, thu nhập xuống thấp, hệ thống tiền tệ và tín dụng trì trệ, đầu cơ tích trữ vàng, và xuất hiện các loại thuế (kèm theo sự nhũng nhiễu) để sung quỹ cho chiến tranh. Cuộc chiến 30 năm đã kéo nền kinh tế Đức đi lùi hàng thế kỷ, Cuộc chiến 7 năm đưa Áo vào tình trạng gần như phá sản, trong khi nhiều cuộc chiến tranh cổ đại về cơ bản đã phá hủy toàn bộ các xã hội. Hơn nữa, các cuộc nội chiến thường là sự tiến hành chủ nghĩa bạo ngược một cách có tổ chức, nó phá hủy cả hai phía, và nhiều cuộc chiến tranh cổ đại về cơ bản đã xóa bỏ toàn bộ xã hội. Thật ra, theo Keeley, bởi vì các phí tổn chiến tranh là quá cao đối với các xã hội cổ đại, do đó chiến tranh lẽ ra phải ít xảy ra giữa họ hơn là giữa các nhà nước và đế chế, nhưng có vẻ sự việc lại diễn ra theo chiều hướng ngược lại.[xxiv]

Mặt khác, trong vòng vài năm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, hầu hết các quốc gia tham chiến về căn bản đã phục hồi về mặt kinh tế: năm 1929, kinh tế Đức đã hoàn toàn phục hồi như giai đoạn trước cuộc chiến, trong khi nền kinh tế Pháp đã tăng 38% so với trước chiến tranh. Không những thế, nước Đức đã phục hồi nền kinh tế từ những tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ hai trong vòng 5 năm, trong khi Nhật Bản – vốn nghèo hơn, và thậm chí còn bị tàn phá nặng nề hơn trong cuộc chiến đó, đã phục hồi trong vòng chưa đến 10 năm. Trong số những người chiến thắng, Chiến tranh thế giới thứ hai chắc chắn là một mối lợi kinh tế cho Mỹ (và số thương vong mà quốc gia này gánh chịu, theo tỉ lệ phần trăm với dân số, là rất nhỏ so với số thương vong trong bao nhiêu cuộc chiến trước đó). Không chỉ từ lâu được biết đến với sức tàn phá kinh khủng, thậm chí là hủy diệt, mà nhiều người còn tin rằng những cuộc chiến tranh khủng khiếp hơn những gì được biến đến. Thật ra, nhìn chung thì các câu chuyện chiến tranh thường phóng đại quy mô tàn phá và thương vong. Ví dụ, một truyền thuyết thịnh hành hàng thế kỷ sau Cuộc chiến 30 năm kể rằng Đức đã mất 75% dân số trong cuộc chiến đó.[xxv] Tuy nhiên, những niềm tin và trải nghiệm đó chưa bao giờ gây ra một sự hoang mang trên diện rộng về chiến tranh như một thể chế, hay khuyến khích các nhu cầu hiệu quả và có tổ chức về việc loại bỏ chiến tranh. Thay vào đó, chiến tranh tiếp tục được chấp nhận như một cách thức giải quyết xung đột thông thường.

Alan Milward nhận định “Câu hỏi có ý nghĩa nhất là liệu chi phí chiến tranh có ngốn mất một tỷ lệ ngày càng lớn trong Tổng sản lượng quốc gia ngày càng tăng của các nước tham chiến hay không. Với tư cách là một lựa chọn kinh tế, chiến tranh, tính toán theo cách này, không thể hiện xu hướng gia tăng về phí tổn một cách rõ ràng và lâu dài.”[xxvi] Hơn nữa, theo luận điểm của Howard, vấn đề là sự bành trướng mạnh mẽ về phát triển kinh tế ở châu Âu thế kỷ 19 không chỉ kèm theo xu hướng hòa bình (suy cho cùng), mà còn có khát khao đầy lãng mạn về quá trình thanh lọc của chiến tranh.
(đọc thêm tại: nghiencuuquocte.net)
Nguồn:

Mueller, John (2006). “Accounting for the Waning of Major War,” in Raimo Vayrynen, ed., The Waning of Major War: Theories and Debates (London and New York: Routledge), pp. 64-79.

Biên dịch: Nguyễn Thị Tâm | Hiệu đính: Ngô Thị Thu Hương

nghiencuuquocte.net

Chú thích

[i] M. Howard, “A Death Knell for War?”, New York Times Book Review

[ii] John Keegan, A History of Warfare(New York: Alfred A. Knopf : Distributed by Random House, Inc., 1993).

[iii] Mary Kaldor, New and Old Wars : Organized Violence in a Global Era(Stanford, Calif.: Stanford University Press, 1999)., p.5; R. Jervis, “Theories of War in an Era of Leading Power Peace”, American Political Science Review, 96 (2002), p.1; J. Record, “Collapsed Countries, Casualty Dread, and the New American Way of War”, Parameters, Summer (2002), p.6. Xem thêm M. Mandelbaum, “Is Major War Obsolete?” Survival, 40, 4 (1998-9), pp. 20-38; M. Mandelbaum, The Ideas That Conquered the World: Peace, Democracy, and Free Markets in the Twenty-first Century (New York: Public Affairs, 2002); P. Johnson, “Another 50 Years of Peace?” Wall Street Journal, 9May 1955; A. Mack, “Civial War: Academic Research and the Policy Community”, Journal of Peace Research, 39, 5 (2002), p. 523.

[iv] Xem J. Mueller, Quiet Cataclysm: Reflections on Recent Transformation of World Politics (New York: HarperCollins, 1995), ch. 9.

[v] Xem Mueller, Retreat from Doomsday: The Obsolescence of Major War (New York: Basic Books, 1989), chs. 3-9. Về Hitler, xem thêm J. Mueller, The Remnants of War (Ithaca: Cornell University Press,2004), pp. 54-65.

[vi] Xem Mueller, Retreat from Doomsday, pp. 240-4.

[vii] B. Ehrenreich, Blood Rites: Origins and History of the Passions of War (New York: Metropolitan, 1997), p. 61. Xem thêm R.C. Forsberg, “Socially-Sanctioned and Non-Sanctioned Violence: On the Role of Moral Beliefs in Causing and Preventing War and Other Forms of Large Group Violence”, in R. Stanley (ed.) Gewalt und Konflict in Einer Globalizierten Welt: Festschrift fur Ulrich Albrecht (Wiebaden: Westdeuscher Verlag, 2001).

[viii] D. Garfield, Punishment and Modern Society: A Study in Social theory (Chicago: University of Chicago Press, 1990), p.232.

[ix] D.L. Horowitz, The Deadly Ethnic Riot (Berkeley: University of California Press, 2001), pp. 560-5.

[x] Về án tử hình, xem Garfield, Punishment and Modern Society, pp. 225-9. Về xu hướng án giết người, xem J.B Given, Society and Homicide in Thirteenth Century in England (Standford: Stanford University Press, 1977); T.R. Gurr, “Historical Trends in Violent Crime: A critical Review of the Evidence”, Crime and Justice, 3 (1981), pp. 295-353; Garfield, Punishment and Modern Society, pp 230-1; L.H. Keeley, War Before Civilization: The Myth of the Peaceful Savage (New York: Oxford University Press, 1996), p.118; C.Tilly, The Politics of Collective Violence (New York: Cambridge University Press, 2003), pp. 60-1. Đấu súng tay đôi không còn phổ biến vì nó được xem như một dạng hành vi kỳ quặc, chứ không phải vì có các hình thức giải quyết xung đột ưu việt hơn. Xem Mueller, Retreat from Doomsday, p. 10.

[xi] R.A. Dahl, Polyarchy (New Haven, Yale University Press, 1971), pp.182-3, 188.

[xii] Ibid. Xem thêm A. Wendt, Social Theory of International Relations (New York: Cambridge University Press, 1999), ch. 3.

Nghị quyết 412: có lạc quan quá sớm?

Trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ tại Thủ đô Washington.

Mặc Lâm, biên tập viên RFA 2014-07-14

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày một lấn lướt trên Biển Đông Thượng viện Mỹ đã ra nghị quyết với số phiếu tuyệt đối yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan HD 981, giữ nguyên hiện trạng và không được cản trở lưu thông hàng hải đã khiến một bầu không khí lạc quan bao trùm đối với người quan tâm đến vấn đề này. Mặc Lâm phỏng vấn GS Nguyễn Mạnh Hùng, giảng dạy khoa bang giao quốc tế tại đại học George Madison để tìm hiểu thêm vấn đề sau đây:

Mặc Lâm: Thưa Giáo sư vừa qua Thượng Viện Hoa Kỳ đã ra nghị quyết S.RES.412 về Biển Đông mà không ít người lạc quan cho là Quốc hội Hoa Kỳ chính thức ủng hộ các nước tranh chấp trong đó có Việt Nam. Ông có lạc quan không trước nội dung của nghị quyết này?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Tôi không lạc quan bởi vì nếu mình đọc kỹ nghị quyết của Thượng Viện thì mình thấy nó không thay đổi gì cả. Tất cả những điều nói trong nghị quyết thì hành pháp đã làm rồi. Thí dụ như ổng (Thượng viện) chỉ trích Trung Quốc về đường chín đoạn. Chỉ trích Trung Quốc dùng võ lực hay dùng cách cưỡng chế và tìm cách thay đổi nguyên trạng. Ông ấy chỉ trích Trung Quốc đưa giàn khoan đến Biển Đông rồi lại nói trong đó ông ấy có quyền lợi việc tự do lưu thông trên đường biển nhưng ông ấy không có lập trường gì trong việc tranh chấp cả. Ông ấy muốn đứng giữa và nói mình có quyền lợi trong việc đang xảy ra, nhất là cách giải quyết tranh chấp. Ông ấy muốn giải quyết tranh chấp bằng hòa bình chứ không phải võ lực.

Riêng trong trường hợp của Nhật thì ổng không nói là ổng trung lập được mà phải nói rằng đảo Senkaku do Nhật quản lý và hiệp ước chung Mỹ Nhật áp dụng cho những trường hợp này và Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ những nơi mà Nhật quản lý. Trường hợp này đảo Senkaku do Nhật quản lý và nếu Trung Quốc tấn công thì ông ấy can thiệp ngay lập tức.

Tôi không lạc quan bởi vì nếu mình đọc kỹ nghị quyết của Thượng Viện thì mình thấy nó không thay đổi gì cả. Tất cả những điều nói trong nghị quyết thì hành pháp đã làm rồi. Thí dụ như ổng (Thượng viện) chỉ trích TQ về đường chín đoạn. Chỉ trích Trung Quốc dùng võ lực hay dùng cách cưỡng chế
GS Nguyễn Mạnh Hùng

Bây giờ về cái cách ông ấy muốn gì thì mình thấy ổng muốn giải quyết bằng biện pháp hòa bình, bằng luật quốc tế, bằng trọng tài quốc tế bằng phát triển phương cách đối xử chung. Ông ấy muốn phát triển đối tác với các nước Á châu, tìm cách tăng cường phòng thủ của các đối tác. Ông ấy ủng hộ sự tiếp tục hiện diện của quân sự Mỹ và vùng Thái Bình Dương.
Tất cả các điều này thì hành pháp Mỹ đã làm rồi, ông ấy không thêm gì cả. Nếu có thêm, có giá trị nào đó thì thể hiện rằng Mỹ hiện nay đang có một đồng thuận trong các cấp lãnh đạo về chính sách ở Biển Đông mặc dù hiện nay đang có phân hóa trầm trọng giữa hai đảng. Quốc hội nói ủng hộ thì chỉ có thế thôi, không có gì mới.

Mặc Lâm: Có phải do Quốc hội Mỹ không chịu phê chuẩn luật biển quốc tế UNCLOS 1982 nên mọi lên tiếng của họ xem ra khó thuyết phục các nước đã ký tên vào đấy, đặc biệt là Trung Quốc?
Thượng viện Mỹ ra Nghị Quyết 412
Thượng viện Mỹ ra Nghị Quyết 412 (govtrack.us)

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Ông ấy không phê chuẩn cái luật biển quốc tế thì ông ấy không có tư cách chính thống để làm việc đó. Hai nữa là ổng muốn củng cố hiện diện và ảnh hưởng của Mỹ và muốn có sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa Mỹ và các nước Á châu. Việc các nước Á châu muốn là phát triển hơn qua Hiệp ước thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Mà muốn như vậy thì Quốc hội Mỹ phải biểu quyết đạo luật người ta gọi là Fast Track Authority bây giờ gọi là Track Promotion Authority, luật này Quốc hội đã biểu quyết cho Tổng thống Bush rồi nhưng đến ông Obama thì Quốc hội không chịu biểu quyết rộng rãi để ông ấy có quyền rộng rãi hơn trong việc điều đình việc kết ước. Hai điều này tôi thấy rất quan trọng thì ổng không làm!

Mặc Lâm: Trước các hành động đơn phương áp đặt sức mạnh quân sự trên toàn bộ khu vực của Trung Quốc thì Việt Nam phải tìm một chỗ dựa cho mình. Theo Giáo sư nếu không còn lối thoát nào khác buộc Việt Nam phải lên tiếng nhờ Mỹ bảo hộ để tránh sự hiếp đáp của Trung Quốc, trong trường hợp ấy theo ông thì việc gì sẽ xảy ra?
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Tôi không thấy Việt Nam đưa đề nghị nào nhờ Mỹ bảo hộ cả. Quyền lợi của Mỹ ở đâu mà có thề bảo hộ khơi khơi một nước không phải là đồng minh của mình? Ngay Phi Luật Tân mà họ còn đòi Mỹ lên đòi Mỹ xuống buộc Mỹ phải cam kết là anh có công nhận là có hiệp ước đó không và anh có tôn trọng không? Họ gọi ông đại sứ Mỹ đến và ông đại sứ phải nói là đồng ý, nước Nhật cũng thế.

Việt Nam không có hiệp ước gì cả mà muốn điều đình ký một Hiệp ước liên minh cũng phải kín và thương thuyết lâu dài lắm chứ không phải một sớm một chiều mà thành được đâu.

Tôi không thấy Việt Nam đưa đề nghị nào nhờ Mỹ bảo hộ cả. Quyền lợi của Mỹ ở đâu mà có thề bảo hộ khơi khơi một nước không phải là đồng minh của mình? Ngay Phi Luật Tân mà họ còn đòi Mỹ lên đòi Mỹ xuống buộc Mỹ phải cam kết là anh có công nhận là có hiệp ước đó không và anh có tôn trọng không?
GS Nguyễn Mạnh Hùng

Mặc Lâm: Không thể kêu gọi Mỹ nhanh chóng vào cuộc giúp cho mình và đơn thân độc mã như vậy liệu Việt Nam phải làm gì trước sự áp đặt của Bắc Kinh?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Trong trường hợp thông thường mình bị một nước lớn mà nó áp đặt mình như thế thì có hai cách, một là mình nhân nhượng nó hai là nếu không nhân nhượng thì phải có hai việc, tự mình mình phải khỏe đã, mà khỏe có nghĩa là trong nước mình phải đoàn kết với nhau.

Mặc Lâm: Nhưng Giáo sư cũng biết Việt Nam đang bị lên án là đã tỏ ra nhường nhịn vượt sự cho phép qua rất nhiều sự kiện, không lẽ cứ nhường nhịn mãi cho tới khi mất tất cả?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Tôi nói là những cái khả năng có thể làm, nghĩa là possible solutions, khả thể thôi chứ tôi không khuyên họ phải nhường nhịn. Cái đó không có phải nói rõ để tránh hiểu lầm tôi không khuyên nhường nhịn, nếu mà thua thì phải nhường nhịn thôi. Nều mình không chịu nhường nhịn thì mình có nhiều giải pháp khác chứ.

Trong trường hợp không nhường nhịn thì như tôi dã nói là phải tăng cường khả năng nội bộ của mình. Khả năng nội bộ ngoài yếu tố mạnh về kinh tế, chính trị không phụ thuộc về kinh tế nhiều thì phải đoàn kết đã. Nhất là trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp nhất phải đoàn kết về một chính sách căn bản nào đó. Hai nữa mình yếu như vậy thì bao giờ mình cũng phải làm giống như mình không có tiền đi mua mà phải đi vay. Mình không có lực thì phải mượn lực người khác.

Lực đó là cái lực của thế giới, có thể là vô hình thí dụ như là sự ủng hộ của quốc tế, trong trường hợp này tôi thấy không ăn thua gì cả. Thứ hai là phải có đối lực mà đối lực hay đối trọng thì phải kiếm một nước lớn mà nó có khả năng và nó bằng lòng bảo vệ cho mình. Trong điều kiện đó thì phải có nhiều sự thương lượng và phải có sự trả giá chứ không phải dễ dàng mà làm được.

Mặc Lâm: Cái phao cuối cùng trong vấn đề này phải chăng là nước Nhật, khi họ có cùng một tình trạng như Việt Nam và hơn nữa họ đã đưa ra rất nhiều đề nghị hợp tác?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Nước Nhật bây giờ cương quyết hơn nhưng phải từ từ lắm. Hiến pháp đó không một sớm một chiều thay đổi được tuy nhiên cách giải thích hiến pháp của họ bây giờ rộng rãi hơn và họ cũng nói rõ họ muốn giúp Việt Nam tăng cường khả năng phòng thủ của mình. Thế nhưng mà nước Nhật không phải là đối trọng của Trung Quốc. Đối trọng của Trung Quốc hữu hiệu nhất chỉ là Mỹ thôi. Nếu không đi thẳng với Mỹ thì có thể đi với Nhật hay qua nước khác.

Trên nguyên tắc nói thì dễ lắm nhưng việc làm thì không dễ bởi vì nó tùy thuộc vào tình hình nội bộ của mình. Nó tùy thuộc vào quyền lợi cá nhân của mình. Nó tùy thuộc vào việc mình muốn cái gì và người ta đòi cái gì để mình được cái muốn đó. Những cái đó là những chuyện phải suy tính và thương lượng lâu dài chứ không phải một sớm một chiều mà làm được.
Mặc Lâm: Xin cám ơn Giáo sư.

« Học giả » Trung Quốc tức tối vì hành động hung hăng của Bắc Kinh tại Biển Đông bị vạch trần

Giáo sư Sở Thụ Long (phải) trong một cuộc hội thảo. (DR)

Trọng Nghĩa RFI


Mỹ có thái độ « thiên vị » trên vấn đề Biển Đông. Trên đây là nội dung ý kiến của một giáo sư Trung Quốc được nhật báo Anh ngữ China Daily đăng tải vào hôm nay, 14/07/2014. Ý kiến này là phản ứng của một học giả Trung Quốc trước các lời cáo buộc Trung Quốc hiếu chiến tại Biển Đông, được hầu hết các chuyên gia nêu lên nhân hai ngày hội thảo (10-11/07) tuần qua về Biển Đông ở Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược CSIS tại Washington. « Học giả » này tuy nhiên chỉ lập lại quan điểm chính thống của Bắc Kinh.

Theo tường thuật của tác giả bài báo, thì tại cuộc hội thảo về Biển Đông ở Trung tâm CSIS, các diễn giả ở Mỹ, hay đến từ các nước Nhật Bản, Việt Nam và Philippines đã « điểm mặt Trung Quốc » về các hành động « khiêu khích », « hung hăng », « bức hiếp » « làm thay đổi hiện trạng ».

Những cáo buộc này, theo bài báo, đã khiến cho ông Sở Thụ Long (Chu Shulong), một giáo sư khoa học chính trị và quan hệ quốc tế tại Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh, cảm thấy khó chịu vì ông cho rằng chính chiến lược xoay trục của Mỹ qua vùng châu Á-Thái Bình Dương, « đặc biệt kể từ bài phát biểu của Ngoại trưởng (Hillary) Clinton tại Hà Nội vào tháng Bảy năm 2010 », đã làm căng thẳng leo thang ở Biển Đông.

Để chứng minh thái độ thiên vị của Mỹ, vị giáo sư Trung Quốc đã nêu bật rằng trong hai ngày hội thảo tại Trung tâm CSIS, không có một quan chức Mỹ nào nói về các hành vi sai trái của các nước khác, ngoại trừ Trung Quốc. Ông nhấn mạnh rằng khi Philippines đưa tàu quân sự lớn ra đảo Hoàng Nham (tên Trung Quốc đặt cho bãi Scarborough) ở Biển Đông, Mỹ đã giữ im lặng, cũng như khi Việt Nam thông qua pháp luật (tức là Luật Biển) để đơn phương thay đổi hiện trạng.

Tại cuộc hội thảo, vị giáo sư này nói tiếp chỉ thấy chiếu hình ảnh về các công trình xây dựng do Trung Quốc thực hiện trên các bãi đá hay rạn san hô ở Biển Đông, mà không thấy hình ảnh công trình của các nước khác. Học giả từ Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh đã mỉa mai Hoa Kỳ là đã phê phán Trung Quốc không tôn trọng luật quốc tế trong khi chính mình lại là nước không tham gia nhiều định chế quốc tế, từ Tòa án Hình sự Quốc tế cho đến Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển…
Mỹ đã cáo buộc Trung Quốc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc bức hiếp láng giềng, nhưng đối với ông Sở Thụ Long, việc Washington gia tăng sự hiện diện quân sự tại Biển Đông cũng đồng nghĩa với việc đe dọa sử dụng vũ lực hay bức hiếp.

Điểm qua các luận cứ được giáo sư Sở Thụ Long nêu lên, giới phân tích đều thấy rõ đó chỉ là tập hợp các quan điểm chính thống của chính quyền Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông.

Về luận điểm cho rằng chính chính sách của Mỹ, từ bài phát biểu của bà Clinton tại Hà Nội năm 2010 đã làm cho tình hình căng thẳng, học giả này đã không nói đến một loạt các hành vi trước đó của Trung Quốc, như dùng võ lực thô bạo để đánh chiếm nhiều hòn đảo của Việt Nam tại Trường Sa năm 1988, giết hại hàng chục binh sĩ Việt Nam, sau đó lại cưỡng chiếm Đá Vành Khăn (Mischief Reef) dưới quyền kiểm soát của Philippines vào năm 1995.

Đó là chưa kể đến các quyết định đơn phương ban hành lệnh cấm đánh cá trên vùng Biển Đông, vốn dĩ là ngư trường truyền thống của ngư dân Việt Nam hay Philippines, gây sức ép trên các tập đoàn dầu khí quốc tế để họ không làm ăn với Việt Nam hay Philippines…

Danh sách các hành vi gây căng thẳng của Trung Quốc từ trước lúc Mỹ tiến hành chính sách xoay trục phải nói là rất dài. Nhưng cốt lõi của vấn đề là tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc, với tấm bản đồ hình lưỡi bò lần đầu tiên được Trung Quốc chuyển đến Liên Hiệp Quốc vào năm 2009, trước cả cái mốc 2010 được ông Sở Thụ Long nêu lên.

Theo giới phân tích quốc tế, chính các hành động hung hăng hẳn lên của Bắc Kinh sau ngày công khai hóa tấm bản đồ đó – nhằm áp đặt yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông – mới là nguyên do làm cho tình hình căng thẳng. Tuy nhiên, đây là điều không được giáo sư Đại học Thanh Hoa nhắc đến.

Tờ China Daily dẫu sao cũng thừa nhận một thực tế : Lập trường bênh vực Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông rất hiếm hoi khi phải kết luận rằng giáo sư Sở Thụ Long « có lẽ hơi đơn độc trong số các diễn giả tại cuộc hội thảo ở Trung tâm CSIS tuần qua ».

Chủ quyền Hoàng Sa của VN chưa bao giờ đứt đoạn

Đăng bởi Anh vào Thứ Năm

Những tư liệu đó nói lên rằng, chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Việt Nam, và được tất cả nhà nước Việt Nam, các thể chế chính trị khác nhau, thuộc tất cả các giai đoạn lịch sử trong nhiều thế kỷ liên tục đều trách nhiệm và tâm huyết gìn giữ, khai thác và bảo vệ.

Trong hệ thống những tư liệu của triển lãm "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, những bằng chứng lịch sử và pháp lý" được Bộ Thông tin Truyền thông trưng bày, giới thiệu tại nhiều địa phương trong cả nước thời gian qua, có một phần tư liệu quan trọng minh chứng chủ quyền đối với Hoàng Sa thời kỳ Việt Nam Cộng hòa.

Những tư liệu này bao gồm các văn bản, quyết định hành chính, các chỉ thị, tờ trình... của các cơ quan ban ngành của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa liên quan đến việc điều động binh lính, cắt cử công chức... ra làm nhiệm vụ tại quần đảo Hoàng Sa, giai đoạn trước năm 1975.
Chủ quyền Trường Sa Hoàng Sa, thư tịch cổ, châu bản, Trung Quốc, Việt Nam, cưỡng chiếm Hoàng Sa, bản đồ, sử sách, hải đội Hoàng Sa, Việt Nam Cộng hòa, hải chiến Hoàng Sa 1974, tử sĩ Hoàng Sa

Những chiến sỹ hải quân Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc vào ngày 19/1/1974.
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Chủ tịch Hội đồng thẩm định các hiện vật, chứng tích lịch sử, pháp lý về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam,  đánh giá những tư liệu trưng bày về chủ quyền Hoàng Sa thời kỳ Việt Nam Cộng hòa có vai trò quan trọng.

"Chúng ta đánh giá và nhìn nhận chúng dưới góc độ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa để thấy được tầm quan trọng của những tư liệu đó. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa theo Hiệp định Genève năm 1954 mới là chủ thể quản lý khu vực từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, trong thực tế đã có nhiều hoạt động, cả trên lĩnh vực quân sự và dân sự để thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa.
Chủ quyền Trường Sa Hoàng Sa, thư tịch cổ, châu bản, Trung Quốc, Việt Nam, cưỡng chiếm Hoàng Sa, bản đồ, sử sách, hải đội Hoàng Sa, Việt Nam Cộng hòa, hải chiến Hoàng Sa 1974, tử sĩ Hoàng Sa

Danh sách quân nhân Việt Nam Cộng hòa thuộc Trung đội Hoàng Sa đợt 38 mãn nhiệm kỳ công tác được trở về đất liền nhận công tác tại Tiểu khu Quảng Nam vào năm 1970.
Nó cho thấy, việc quản lý đối với Hoàng Sa, Trường Sa của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng giống như với những vùng khác trên đất liền, rất bình thường. Điều đó nói lên rằng, Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam là một quá trình lịch sử liên tục và hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ của luật pháp quốc tế" - GS.TS Nguyễn Quang Ngọc đánh giá.
Ông Ngọc lý giải: Theo lịch sử hiện đại, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, năm 1947, Pháp lập Chính phủ Liên hiệp Pháp (gọi là Chính phủ Quốc gia Việt Nam) do Bảo Đại đứng đầu.
Chủ quyền Trường Sa Hoàng Sa, thư tịch cổ, châu bản, Trung Quốc, Việt Nam, cưỡng chiếm Hoàng Sa, bản đồ, sử sách, hải đội Hoàng Sa, Việt Nam Cộng hòa, hải chiến Hoàng Sa 1974, tử sĩ Hoàng Sa

Những tư liệu khẳng định chủ quyền Hoàng Sa của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa được trưng bày tại NVH tỉnh Quãng Ngãi.
Năm 1949, Tổng thống Vincent Auriol của Pháp ký Sắc luật giao Nam Kỳ cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco, ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đã khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Khi ấy, hơn 50 nước tham dự hội nghị, không nước nào hoài nghi hay phản đối tuyên bố của Việt Nam.

Khi Pháp rút khỏi Việt Nam, theo Hiệp định Genève năm 1954, đối tượng được thừa hưởng, thừa kế toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa là Chính phủ Quốc gia Việt Nam, sau này là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Chủ quyền Trường Sa Hoàng Sa, thư tịch cổ, châu bản, Trung Quốc, Việt Nam, cưỡng chiếm Hoàng Sa, bản đồ, sử sách, hải đội Hoàng Sa, Việt Nam Cộng hòa, hải chiến Hoàng Sa 1974, tử sĩ Hoàng Sa
"Sự vụ lệnh" (lệnh điều động) do chỉ huy Việt Nam Cộng hòa điều động quân nhân ra thay quân trấn giữ ở quần đảo Hoàng Sa vào năm 1969.
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc nhận xét: "Phải nói ngay từ thời kỳ đó, Việt Nam Cộng hòa đã chú trọng xây dựng hải quân mạnh. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa khi đó cũng đã có nhiều quyết sách thể hiện vai trò quản lý của mình trên hai quần đảo này.

Họ cử quân đội ra coi giữ, xây dựng bia chủ quyền, các hoạt động quân sự, dân sự ở đó... Đó là những tư liệu rất phong phú và rõ ràng khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa".
Chủ quyền Trường Sa Hoàng Sa, thư tịch cổ, châu bản, Trung Quốc, Việt Nam, cưỡng chiếm Hoàng Sa, bản đồ, sử sách, hải đội Hoàng Sa, Việt Nam Cộng hòa, hải chiến Hoàng Sa 1974, tử sĩ Hoàng Sa

Phiếu trình của Bộ Nội vụ gửi Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa về việc sáp nhập các đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào đơn vị hành chính nội địa (ngày 25/1/1973).
Những tư liệu thể hiện việc quản lý của chính phủ Việt Nam Cộng hòa đối với Hoàng Sa chủ yếu được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2 tại thành phố Hồ Chí Minh. Một phần được lưu trữ tại UBND huyện Hoàng Sa, T.P Đà Nẵng.
Đó là những lệnh điều động quân nhân hay viên chức dân sự của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra trấn giữ đảo Hoàng Sa, danh sách thay quân, danh mục trang thiết bị đưa ra Hoàng Sa, nhật ký ghi chép thời tiết, lịch đo biểu đồ thời tiết trên Hoàng Sa, Trường Sa trước năm 1975, v.v...
Chủ quyền Trường Sa Hoàng Sa, thư tịch cổ, châu bản, Trung Quốc, Việt Nam, cưỡng chiếm Hoàng Sa, bản đồ, sử sách, hải đội Hoàng Sa, Việt Nam Cộng hòa, hải chiến Hoàng Sa 1974, tử sĩ Hoàng Sa

Một học sinh của TP. Quãng Ngãi trước không gian trưng bày Châu bản triều Nguyễn.
Chẳng hạn, trong số các tư liệu được trưng bày có "sự vụ lệnh" (lệnh điều động) do chỉ huy Việt Nam Cộng hòa điều động quân nhân ra thay quân trấn giữ ở quần đảo Hoàng Sa vào năm 1969; hình ảnh những chiến sỹ hải quân của quân lực Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc vào ngày 19/1/1974; danh sách quân nhân Việt Nam Cộng hòa thuộc Trung đội Hoàng Sa đợt 38 mãn nhiệm kỳ công tác được trở về đất liền nhận công tác tại Tiểu khu Quảng Nam vào năm 1970; Phiếu trình của Bộ Nội vụ gửi Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa về việc sáp nhập các đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào đơn vị hành chính nội địa (ngày 25/1/1973)...

Cũng theo GS.TS Nguyễn Quang Ngọc "Những tài liệu tương tự như thế của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn rất nhiều, chúng ta mới chỉ công bố chỗ này chỗ kia một một phần mà thôi. Cũng đã có một số công trình nghiên cứu, luận văn, luận án khai thác một phần tư liệu liên quan tới chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn lịch sử này, nhưng trong thực tế chưa có những nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc".

"Điều quan trọng nhất, những tư liệu đó nói lên rằng, chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Việt Nam, và được tất cả nhà nước Việt Nam, các thể chế chính trị khác nhau, thuộc tất cả các giai đoạn lịch sử trong nhiều thế kỷ liên tục đều trách nhiệm và tâm huyết gìn giữ, khai thác và bảo vệ" - GS.TS Nguyễn Quang Ngọc khẳng định.

Kiên Trung (bài và ảnh)

Theo VietnamNet
 
Copyright © 2009. ↑ Khối 8406 Việt Nam - All Rights Reserved
Hội Huynh Đệ Người Việt